CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1.1 Tổng quan về thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế 1. Khái niệm Đến nay, vẫn chưa có khái niệm thống nhất về thuế, tùy vào góc độ nghiên cứu mà người ta có những quan niệm khác nhau về thuế, phù hợp với lĩnh vực mà họ nghiên cứu. Dưới góc độ nghiên cứu của kinh tế chính trị học, người ta định nghĩa: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước.
Dưới góc độ nghiên cứu pháp luật, thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo quy định của pháp luật. Dưới góc độ nghiên cứu của kinh tế học, thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công, nhằm thực hiện các chức năng kinh tế xã hội (KTXH) của Nhà nước. Ở Việt Nam, đến nay cũng chưa có một khái niệm thống nhất về thuế. Theo từ điển tiếng Việt - Trung tâm từ điển học (1998) thì thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp,.
buộc phải nộp cho Nhà nước theo mức quy định. Các nhà kinh tế đều cho rằng, để làm rõ được bản chất của thuế thì định nghĩa về thuế phải nêu bật được các khía cạnh sau đây: - Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa Nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân, không mang tính hoàn trả trực tiếp; được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước; - Việc nộp thuế được pháp luật quy định; - Và việc sử dụng tiền thuế phải dành cho mục đích chung. 8 Từ các góc độ nghiên cứu và các yêu cầu nêu trên, có thể hiểu thuế theo khái niệm như sau: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật do Nhà nước ban hành; không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và sử dụng cho mục đích công cộng. Như vậy thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và Pháp luật.
Đặc điểm của thuế Thuế là một trong những công cụ tài chính của Nhà nước, được sử dụng để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Điều này thể hiện qua các đặc điểm cơ bản như sau: - Thứ nhất, thuế là khoản trích nộp bằng tiền: Về nguyên tắc, thuế là một khoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ, điều này trái ngược với các hình thức thanh toán bằng hiện vật đã tồn tại trước đây. Sự phát triển của quan hệ hàng hoá - tiền tệ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thuế, đổi lại, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế (ĐTNT) được thực hiện bằng tiền lại góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trường. - Thứ hai, thuế là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách.
Đối với người nộp thuế (NNT), đây là nghĩa vụ chuyển giao tài sản của họ cho Nhà nước khi có đủ điều kiện mà không phải là quan hệ thanh toán dù trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng. Tính chất bắt buộc của thuế có mối quan hệ mật thiết với tính không hoàn trả. Do thuế không có tính hoàn trả, về mặt lý thuyết khó tìm thấy sự tự nguyện khi nộp thuế - hành vi chuyển giao một khối lượng tài sản cho Nhà nước và chắc chắn không nhận lại chúng trong tương lai. Vì vậy, để thực hiện thu thuế ổn định, phải sử dụng biện pháp bắt buộc như một thuộc tính cơ bản của thuế.
- Thứ ba, thuế gắn với yếu tố quyền lực. Thuế xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước, thực hiện việc cung cấp cơ sở vật chất cho Nhà nước thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình, thuế là biện pháp chủ yếu của Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế. Bằng quyền lực chính trị, Nhà nước tạo ra cho thuế tính ổn định, sự tuân thủ của NNT. Các yếu tố như NNT, thuế suất… được quy định trước và mang 9 tính ổn định trong một thời gian nhất định.
Chỉ gắn với yếu tố quyền lực, thuế mới đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ tạo nguồn thu nhập tài chính cho Nhà nước. - Thứ tư, thuế là một khoản chuyển giao thu nhập không mang tính hoàn trả trực tiếp. Bất kỳ ai, khi đủ điều kiện đều phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nước, không phân biệt họ đã nhận được lợi ích công nào. Điều này cho phép phân biệt thuế với các khoản thu nộp do đối tượng nộp khi thực hiện nghĩa vụ của mình khi đã nhận được một lợi ích nhất định từ phía Nhà nước (đó là các khoản thu từ phí, lệ phí).
Thuế xuất hiện do nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, của các chủ thể quản lý xã hội. Kết quả của việc sử dụng các khoản thu từ thuế chủ yếu là các sản phẩm công (những lợi ích không thể xác định theo giá trị vật chất). Điều đó lý giải tại sao thuế là các khoản thu không có tính chất hoàn trả trực tiếp. Vai trò của thuế Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong những điều kiện KTXH nhất định.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, với sự thay đổi phương thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế, thuế đóng vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình phát triển KTXH. Vai trò của thuế được thể hiện trên các khía cạnh sau đây: - Thứ nhất, thuế tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước (NSNN): Với chức năng phân phối lại thu nhập quốc dân, thuế hình thành nên nguồn tài chính tập trung lớn nhất phục vụ cho chi tiêu công cộng, đó là NSNN. NSNN được tập hợp từ nhiều nguồn thu khác nhau, nhằm đảm bảo yêu cầu chi tiêu chung cho nhu cầu công cộng. Trong tất cả các nguồn, thông thường số thu về thuế chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn thu NSNN.
Đây là nguồn thu ổn định nhất được kế hoạch hoá tốt trên cơ sở dự báo kế hoạch và tiềm năng phát triển kinh tế của đất nước trong một năm. Hầu như mọi khoản chi tiêu của NSNN đều dựa vào sự đóng thuế của người dân. Vì vậy, xã hội có trách nhiệm phải tôn trọng NNT, những người thông qua hành vi của mình đóng góp tài chính cho NSNN. - Thứ hai, thuế là công cụ điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội: Nhà nước sử dụng pháp luật thuế làm công cụ để điều hòa vĩ mô thu nhập trong xã hội.
Sự điều tiết này thể hiện ở chỗ thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước 10 thực hiện việc điều tiết thu nhập của các ĐTNT và các thành viên trong xã hội. Sự thay đổi của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế trong hệ thống thuế, về thuế suất. đều có tác động đến thu nhập và sử dụng thu nhập trong xã hội. - Thứ ba, thuế là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD): Vai trò này được xuất hiện trong quá trình tổ chức thực hiện các luật thuế trong thực tế.
Để đảm bảo thu được thuế và thực hiện đúng các quy định của các luật thuế đã ban hành, cơ quan thuế (CQT) và các cơ quan liên quan phải bằng mọi biện pháp nắm vững số lượng, quy mô các cơ sở SXKD, ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh, mặt hàng họ được phép kinh doanh cũng như các định mức chi tiêu đặc thù và các phương thức hạch toán riêng có. Từ công tác thu thuế mà CQT sẽ phát hiện ra những khó khăn mà họ gặp phải để giúp đỡ họ tìm biện pháp tháo gỡ. Đồng thời, cũng qua công tác thu thuế, CQT cập nhật được kiến thức quản lý kinh tế để phục vụ tốt hơn cho việc kiểm tra, kiểm soát sau này. Như vậy, qua công tác quản lý thuế mà có thể kết hợp kiểm tra, kiểm soát toàn diện các mặt hoạt động của cơ sở kinh tế, đảm bảo thực hiện tốt quản lý Nhà nước về mọi mặt của đời sống KTXH.
- Thứ tư, thuế góp phần thúc đẩy SXKD phát triển: Thuế trong cơ chế thị trường không chỉ đóng vai trò là nguồn thu chủ yếu của NSNN, mà còn là một công cụ làm đòn bẩy để thúc đẩy SXKD phát triển. Theo quan điểm công bằng, bất kỳ một tổ chức, cá nhân khi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế với Nhà nước, họ được quyền thụ hưởng và cung ứng những lợi ích công cộng nhất định và được tạo thuận lợi nhất cho hoạt động SXKD của mình. Bên cạnh đó, Nhà nước có thể dùng thuế để tác động, tạo thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh ở một số ngành, vùng để khuyến khích SXKD phát triển nhằm tạo ra một cơ cấu hợp lý hơn theo chủ trương phát triển kinh tế. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế giá trị gia tăng 1.
Khái niệm Thuế GTGT (hay còn gọi là VAT- Value Added Tax) được phát kiến ra bởi một người Đức tên là CARL FRIEDRICH VON SIMENS, nhưng những lý luận của ông đã không đủ sức thuyết phục Chính phủ Đức áp dụng loại thuế này. Đến năm 1954, loại thuế này mới được áp dụng đầu tiên tại Pháp với tên gọi là TVA 11 (Taxe Sur la Valeur Ajoutee) và đã nhanh chóng được áp dụng rộng rãi trên thế giới, trở thành nguồn thu quan trọng của Chính phủ nhiều nước. Nếu như năm 1989 chỉ có 43 quốc gia áp dụng thuế GTGT thì đến năm 2012 đã có trên 150 nước áp dụng sắc thuế này. Tại Việt Nam, thuế GTGT được nghiên cứu từ khi tiến hành cải cách thuế bước 1 vào năm 1990, áp dụng thử nghiệm năm 1993 ở 11 đơn vị (trong các ngành đường, dệt, xi măng,.), ban hành Luật và được thông qua tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá 9 và được áp dụng chính thức từ ngày 01/01/1999.