CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC, HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC 1.1 Nhà nước và quản lý Nhà nước về kinh tế 1.1 Khái niệm quản lý Nguồn gốc ra đời của quản lý chính là từ hoạt động của con người, là hình tượng khách quan nảy sinh từ nhu cầu liên kết lại với nhau trong quá trình lao động bởi họ thấy được sự cần thiết phải liên kết, phân phối lao động bởi mọi hoạt động lao động tập thể đều cần có sự tổ chức và thống nhất để tạo ra sức mạnh nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Từ nhiều cách tiếp cận và những góc độ nghiên cứu khác nhau, có nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau về quản lý phản ánh những khía cạnh khác nhau: - Quản lý được tiếp cận dưới góc độ kinh tế - kỹ thuật: “Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” (Frederick Winslow Taylor, 1911). - Quản lý được tiếp cận từ mối quan hệ giữa các quá trình trong quản lý: quản lý là hoạt động bao gồm hai quá trình đan xen nhau một cách chặt chẽ là duy trì và phát triển. Hai quá trình này đan xen lồng ghép nhau nhằm bảo đảm cho hoạt động của tổ chức vừa mang tính ổn định vừa bảo đảm cho sự phát triển đi lên.
- Trong lĩnh vực nghiên cứu về quản lý các nhà khoa học đã đưa các khái niệm khác nhau: + Henri Faylol (1949) cho rằng quản lý được tiếp cận theo quy trình với quan điểm rằng quản lý một tiến trình bao gồm: xây dựng kế hoạch, tổ chức, phân công điều khiển và quản lý các nổ lực của cá nhân, bộ phận, sử dụng hiệu quả các nguồn vật chất khác của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra. + Mary Paker Follet cho rằng quản lý là một hoạt động gián tiếp trong đó chủ thể quản lý xây dựng các mục tiêu và tổ chức cho người khác thực hiện các mục tiêu mà mình mong muốn. Và quản lý là nghệ thuật đạt được mục tiêu thông qua người khác. 9 Từ những tiếp cận nêu trên, quan niệm quản lý có những điểm chung cơ bản: hướng đến việc đạt được mục tiêu nhất định; quá trình phân công hướng dẫn; là một hoạt động mang tính gián tiếp, đồng thời là sự tác động của chủ thể đến đối tượng được quản lý.
Như vậy, quản lý có thể hiểu là sự tác động một cách có tổ chức, theo định hướng của chủ thể lên đối tượng quản lý để đạt được một mục tiêu nhất được.2 Quản lý Nhà nước Nhà nước là một hiện tượng của thượng tần chính trị pháp lý, là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị có phạm vi hoạt động rộng lớn nhất và có sức mạnh toàn năng nhất. Hay có thể hiểu Nhà nước là bộ máy quyền lực bao gồm hai yếu tố là bộ máy quản lý và bộ máy cưỡng chế. Bộ máy đó bao gồm nhiều bộ phận hợp thành, hoạt động theo những nguyên tắc chung thống nhất, tạo thành một cơ chế đồng bộ để thi hành các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. Để thực hiện mục tiêu của mình QLNN ra đời với đầy đủ các vai trò chức năng của Nhà nước nhằm duy trì xã hội ổn định và sự phát triển của đất nước.
Nhà nước thiết lập một bộ máy quyền lực với pháp luật chính sách có tính bắt buộc chung để điều hành, sử dụng các nguồn lực của đời sống xã hội nhằm đạt được mục tiêu đề ra. QLNN có thể hiểu là một dạng quản lý xã hội: cơ quan trong bộ máy Nhà nước sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của tổ chức, cá nhân trên tất cả mọi mặt của đời sống xã hội nhằm duy trì sự ổn định, phát triển của xã hội và phục vụ nhân dân.3 Vai trò, chức năng của Nhà nước trong việc quản lý nền kinh tế Việt Nam Nhà nước có vai trò đảm bảo nền kinh tế ổn định và phát triển một cách công bằng và bền vững. Vai trò đó được thể hiện ở các mục tiêu đề ra trong việc quản lý nền kinh tế vĩ mô. Đối với nước ta Nhà nước có vài trò như sau: - Nhà nước chọn nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa để thay thế nền kinh tế kế hoạch tập trung.
Đây là sự kết hợp giữa quy luật kinh tế của nền KTTT và đặc thù của định hướng xã hội chủ nghĩa được Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo với mục tiêu giúp nền kinh tế phát triển toàn diện, xã hội ổn định, nhân dân có 10 cuộc sống đầy đủ để hoàn thành mục tiêu phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, hội nhập nền kinh tế toàn cầu đưa đất nước trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. - Nhà nước là chủ thể quản lý và có khả năng quyết tốc độ của quá trình đổi mới. Do quá trình đổi mới bao gồm cả cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý, tư duy, lối sống của người dân trong xã hội nên quá trình này còn gặp nhiều khó khăn phức tạp. - Nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa không phát triển tự phát mà phát triển trong quá trình nhận thức phấn đấu rất cao của toàn xã hội được Đảng hướng dẫn và lãnh đạo, Nhà nước quản lý.
Quá trình này đòi hỏi sự nổ lực rất lớn của Nhà nước do nó là quá trình chuyển đổi đặc biệt chưa từng có trong lịch sử, đặt trong bối cảnh của toàn cầu hóa, các nước đang từng bước chuyển sang nền kinh tế tri thức. Vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước thể hiện qua việc Nhà nước nắm các công việc và các khâu quan trọng trong nền kinh tế mà người dân hoặc thị trường không làm được. Nhà nước sử dụng cơ chế thị trường một cách hiệu quả khôn khéo để hạn chế những mặt tiêu cực, phát huy những mặt tích cực nhằm phục vụ mục tiêu quản lý của mình. Vai trò đầy đủ của Nhà nước trong việc quản lý nền KTTT theo định hướng XHCN là: đại diện cho sở hữu toàn dân, thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản công; và tư cách là bộ máy hành chính.
Ngoài những thành công đạt được trên của hai phương diện trên, thì vẫn còn những yếu kém, hạn chế trong việc quản lý tài sản công của các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước. Trong nền KTTT XHCN mỗi bộ phận như: Nhà nước, thị trường, DN có nhiệm vụ, chức năng khác nhau, trong đó vai trò của Nhà nước là quan trọng nhất quyết định toàn bộ sự vận động của nền kinh tế. Do đó các công cụ, kỹ thuật, phương pháp điều hành nền KTTT trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiệu đại hóa và hội nhập là điều Nhà nước phải thực hiện một cách liên tục. Chức năng: Trong văn kiện Đại hội XI của Đảng cũng khẳng định: “Nhà nước quản lý điều hành nền kinh tế bằng pháp luật, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ điều tiết trên cơ sở tôn trọng các quy luật thị trường”.4 Quản lý Nhà nước về kinh tế 1.1Khái niệm Theo các học thuyết tư sản cổ điển thì sự can thiệp, quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế có những quan điểm như sau: Theo Chủ nghĩa trọng thương (được hình thành và phát triển ở Anh và Pháp thế kỷ XV, XVI và XVII) thì phải có sự can thiệp của Nhà nước đối với các hoạt động kinh tế.
Coi sáng kiến các nhân là quan trọng, nhưng phải có sự hướng dẫn, quản lý, điều tiết của Nhà nước. Theo Chủ nghịa Trọng nông (xuất hiện giữa thế kỷ XVIII tại Pháp) theo đó các tác giả Trọng nông cho rằng: Sự tự do là điều kiện của sự phát triển. Trong tự nhiên đã có sự sắp xếp hoàn hảo, con người phải tôn trọng trật tự đó. Nhà nước nên để cho người nông dân được tự do chọn lựa đất đai, cây trồng và phương pháp canh tác, tự do cạnh tranh, tự do trao đổi của cải sản xuất được.
Nhà nước nên tránh can thiệp vào các hoạt động kinh tế, vì sự can thiệp này có thể làm sai lệch “trật tự tự nhiên”, mà trật tự tự nhiên bao giờ cũng là tuyệt hảo. Theo Học thuyết kinh tế của Adam Smith (ra đời vào thế kỷ XVIII tại Anh): Adam Smith ủng hộ mạnh mẽ tư tưởng tự do kinh tế, đề cao vai trò tự điều tiết của cơ chế thị trường và chống lại sự can thiệp kinh tế của nhà nước. Nhà nước không nên can thiệp vào guồng máy kinh tế. Adam Smith cho rằng trong xã hội, nhà nước chỉ nên giữ một vai trò thu hẹp như bảo đảm an ninh, công bằng, kiến tạo và duy trì một số công trình công cộng mà tư nhân không đảm đương được vì lợi lộc không đủ bồi hoàn chi phí.
Theo Học thuyết kinh tế của trường phái Keynes (ra đời vào những năm 30 của thế kỷ XX tại các nước phương Tây) với lập trường cơ bản là: Bác bỏ cách lý giải cổ điển về quá trình tự điều tiết của nền kinh tế dựa trên cơ chế thị trường linh hoạt; chứng minh rằng cơ chế thị trường không thể bảo đảm tận dụng tối ưu các nguồn sản xuất và lao động; từ đó chủ trương một sự can thiệp sâu rộng của Nhà nước để điều chỉnh sự vận động của nền kinh tế, nhằm khắc phục suy thoái, hạn chế thất nghiệp, tai lập cân bằng. Các khái niệm QLNN về kinh tế hiện nay tại Việt Nam: 12 QLNN về kinh tế là sự quản lý của Nhà nước đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân bằng quyền lực Nhà nước thông qua cơ chế quản lý kinh tế nhằm đảm bảo tốc độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế quốc dân. Đặc điểm của QLNN về kinh tế: - QLNN về kinh tế là quản lý vĩ mô nền kinh tế: có nhiệm vụ chủ yếu là đảm bảo cân đối cơ bản trên bình diện tổng thể nền kinh tế, tạo ra môi trường tốt cho các chủ thể kinh tế trên thị trường đặc biệt là DN, dẫn dắt nền kinh tế quốc dân phát triển liên tục với tốc độ cao và lành mạnh. Chức năng chủ yếu của quản lý vĩ mô là vạch ra các mục tiêu cần đạt được, nhiệm vụ ổn định xã hội, phát triển nền kinh tế và các chính sách kinh tế đồng bộ.