Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN 1. Cơ sở lý luận về công tác quản lý các dự án 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Dự án Từ khi danh từ "dự án" ra đời, người ta dùng danh từ này để chỉ những hoạt động, những quá trình rất khác nhau trong từng lĩnh vực cụ thể rất đa dạng.
Trên góc độ tổng quát nhất, dự án có thể được hiểu là hệ thống các công việc được xác định rõ mục tiêu, nguồn lực cũng như thời gian bắt đầu và kết thúc. Nói cách khác, dự án là một quá trình hoạt động đã xác định rõ mục tiêu cần phải đạt được trong những ràng buộc nhất định về thời gian và nguồn lực để đạt mục tiêu đó. Việc sử dụng các nguồn lực là rất khác nhau trong từng giai đoạn nhất định của dự án để tránh lãng phí và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên. Một dự án thành công là duy trì và phát huy tác dụng của các nguồn lực và phương tiện được phân phối cho sự phát triển lâu dài và bền vững của tổ chức.
Một dự án có thể được xem xét như là một chuỗi các công việc và các nhiệm vụ: • Có mục tiêu cụ thể được hoàn thành trong những điều kiện nhất định • Được xác định rõ thời gian bắt đầu và kết thúc • Có giới hạn nhất định về tài chính • Sử dụng các nguồn lực nhất định về phương tiện, thiết bị, con người… 1. Đầu tư Theo Luật Đầu tư (2014): Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt 5 động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Theo bách khoa toàn thư Việt Nam: Đầu tư, trong kinh tế học vĩ mô, chỉ việc gia tăng tư bản nhằm tăng cường năng lực sản xuất tương lai. Đầu tư, vì thế, còn được gọi là hình thành tư bản hoặc tích lũy tư bản.
Tuy nhiên, chỉ có tăng tư bản làm tăng năng lực sản xuất vật chất mới được tính. Còn tăng tư bản trong lĩnh vực tài chính tiền tệ và kinh doanh bất động sản bị loại trừ. Việc gia tăng tư bản tư nhân (tăng thiết bị sản xuất) được gọi là đầu tư tư nhân. Việc gia tăng tư bản xã hội được gọi là đầu tư công cộng.
Mặc dù đầu tư tư nhân làm tăng năng lực sản xuất (phía cung của nền kinh tế), song việc xuất tư bản để đầu tư lại được tính vào tổng cầu. Dự án đầu tư xây dựng Luật Xây dựng Việt Nam số 50/QH13/2014 ngày 18/6/2014 định nghĩa: ‘‘Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định (Quốc hội, 2014). Dự án đầu tư có thể xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau: Về góc độ tổng thể của quá trình đầu tư: Dự án đầu tư có thể được hiểu như là kế hoạch chi tiết triển khai các hoạt động đầu tư nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra trong một khoảng thời gian nhất định (Trịnh Quốc Thắng, 2021). Về mặt hình thức: Dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch đã đạt được những kết quả và thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai.
Về góc độ quản lý: Dự án đầu tư là một công cụ hoạch chỉ định việc sử dụng vốn, vật tư, lao động nhằm tạo ra những sản phẩm mới cho xã hội. 6 Về góc độ kế hoạch hóa: Dự án đầu tư là kế hoạch hóa chi tiết để thực hiện chương trình đầu tư xây dựng nhằm phát triển kinh tế xã hội làm căn cứ cho việc ra quyết định đầu tư và sử dụng vốn đầu tư. Về mặt nội dung: Dự án đầu tư là bộ hồ sơ xác lập nhu cầu về việc sử dụng nguồn lực đầu vào (nhân tài – vật lực) cho mục tiêu đầu tư (sản phẩm – lợi nhuận và lợi ích kinh tế – xã hội khác). Dù xét theo bất kỳ góc độ nào thì một dự án đầu tư xây dựng cũng đều bao gồm: mục tiêu của dự án, các kết quả, các hoạt động và các nguồn lực.
Các kết quả được xem là cột mốc đánh dấu tiến độ của dự án. Vì vậy, trong quá trình thực hiện dự án phải thường xuyên theo dõi các đánh giá kết quả đạt được. Quản lý dự án đầu tư xây dựng Quản lý dự án là việc áp dụng các công cụ, kiến thức và kỹ thuật nhằm định nghĩa, lập kế hoạch, tiến hành triển khai, tổ chức, kiểm soát và kết thúc dự án. Một dự án được quản lý tốt, tức là khi kết thúc phải thoả mãn được chủ đầu tư về các mặt: thời hạn, chi phí và chất lượng kết quả (Nguyễn Văn Đáng, 2019).
Quản lý dự án đầu tư xây dựng là toàn bộ những hoạt động có mục đích của chủ đầu tư thông qua hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách và các công cụ quản lý nhằm tác động lên đối tượng quản lý dự án đầu tư xây dựng, là toàn bộ các công việc của dự án và các bên có liên quan nhằm hoàn thành tốt nhất các mục tiêu đã đặt ra. Quản lý dự án đầu tư xây dựng là sự điều hành các công việc theo một kế hoạch đã định hoặc các công việc phát sinh xảy ra trong quá trình hoạt động xây dựng, với các điều kiện ràng buộc (Quy phạm pháp luật:luật, quy chuẩn, tiêu chuẩn,…; Ngân sách: nguồn vốn, tài chính; Thời gian: tiến độ thực hiện; Không gian: đất đai, tổng mặt bằng xây dựng) nhằm đạt được các mục tiêu đề ra một cách tối ưu (Nguyễn Văn Đáng, 2019). Phân loại dự án đầu tư xây dựng Dự án đầu tư xây dựng được phân loại theo quy mô, mức độ quan trọng; công năng phục vụ, tính chất chuyên ngành của công trình và mục đích quản lý; nguồn vốn sử dụng và hình thức đầu tư. - Căn cứ quy mô, mức độ quan trọng, dự án đầu tư xây dựng được phân loại thành dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B, dự án nhóm C theo tiêu chí quy định của pháp luật về đầu tư công.
- Căn cứ công năng phục vụ, tính chất chuyên ngành của công trình và mục đích quản lý, dự án đầu tư xây dựng được phân loại thành các dự án sau: a) Dự án đầu tư xây dựng công trình dân dụng; b) Dự án đầu tư xây dựng công trình công nghiệp; c) Dự án đầu tư xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật; d) Dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông; đ) Dự án đầu tư xây dựng công trình phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn; e) Dự án đầu tư xây dựng công trình quốc phòng, an ninh; g) Dự án đầu tư xây dựng nhà ở, dự án đầu tư xây dựng khu đô thị và dự án đầu tư xây dựng có công năng phục vụ hỗn hợp khác. - Căn cứ nguồn vốn sử dụng và hình thức đầu tư, dự án đầu tư xây dựng được phân loại thành các dự án sau: a) Dự án sử dụng vốn đầu tư công; b) Dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài đầu tư công; c) Dự án PPP; d) Dự án sử dụng vốn khác. Dự án đầu tư xây dựng được sử dụng một hoặc nhiều nguồn vốn khác nhau; có một hoặc nhiều công trình với loại và cấp khác nhau.3 Đặc điểm dự án đầu tư xây dựng Dự án đầu tư xây dựng có các đặc điểm cơ bản sau đây: 8 - Các công trình xây dựng luôn gắn liền với đất xây dựng công trình. Vì vậy, mỗi công trình xây dựng có một địa điểm xây dựng và chịu sự chi phối bởi điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn, môi trường, khí hậu, thời tiết… của nơi đầu tư xây dựng công trình, nơi đầu tư xây dựng công trình cũng chính là nơi đưa công trình vào khai thác, sử dụng (Trịnh Quốc Thắng, 2021).
- Sản phẩm Đầu tư xây dựng có tính đơn chiếc, độc đáo và không phải là sản phẩm của một quá trình sản xuất liên tục, hàng loạt. Sản phẩm cuối cùng là công trình xây dựng hoàn thành đảm bảo các mục tiêu ban đầu đã đặt ra về thời gian, chi phí, chất lượng, an toàn, vệ sinh và bảo vệ môi trường… - Chu kỳ của dự án đầu tư xây dựng trải qua các giai đoạn hình thành và phát triển, có thời gian tồn tại hữu hạn từ thời điểm bắt đầu xuất hiện ý tưởng về xây dựng công trình và kết thúc khi công trình xây dựng hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, khi công trình dự án hết niên hạn khai thác và chấm dứt tồn tại (Trịnh Quốc Thắng, 2021). - Dự án đầu tư xây dựng có sự tham gia của nhiều chủ thể (Chủ đầu tư, đơn vị thiết kế, đơn vị quản lý dự án, đơn vị giám sát, đơn vị thi công, …). Các chủ thể này có nhiệm vụ, trách nhiệm khác nhau, quan hệ giữa họ thường mang tính đối tác và dễ xảy ra xung đột về lợi ích.
Vì vậy, khi tiến hành hoạt động đầu tư xây dựng cần phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các chủ thể trong quản lý quá trình đầu tư (Trịnh Quốc Thắng, 2021). - Đầu tư xây dựng thường được tiến hành ngoài trời nên luôn chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, thời tiết và lực lượng thi công xây dựng công trình thường xuyên phải di chuyển theo nơi phát sinh nhu cầu đầu tư xây dựng công trình. Quản lý Đầu tư xây dựng phải thúc đẩy quá trình tổ chức hợp lý các yếu tố về nhân lực, máy móc thi công… nhằm giảm bớt lãng phí, thiệt hại về vật tư và tiền vốn trong quá trình đầu tư xây dựng các công trình. Dự án đầu tư xây dựng luôn bị hạn chế bởi các nguồn lực là tiền vốn, nhân lực, công nghệ, kỹ thuật, vật tư thiết bị …, trong thời gian cho phép (Trịnh Quốc Thắng, 2021).
9 - Đầu tư xây dựng yêu cầu lượng vốn lớn và nằm đọng lại trong suốt thời gian thực hiện đầu tư.