Luận án: Nâng cao hiệu quả liên kết chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch y tế tại TP. Hồ Chí Minh

Phân tích sâu sắc các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả liên kết chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch y tế tại TP. Hồ Chí Minh. Đề xuất giải pháp tối ưu hóa hoạt động.

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ kinh tế

2022

192
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan liên kết chuỗi cung ứng du lịch y tế TP

Chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch y tế là tập hợp các doanh nghiệp, tổ chức kết nối trực tiếp hoặc gián tiếp qua dòng chảy sản phẩm, dịch vụ, thông tin và tài chính. Các thành phần bao gồm cơ sở y tế, khách sạn, hãng vận chuyển, công ty lữ hành và nhà cung cấp dịch vụ bổ trợ. Liên kết trong chuỗi cung ứng du lịch y tế tại TP.HCM đóng vai trò quyết định chất lượng trải nghiệm khách hàng. Mỗi mắt xích cần phối hợp nhịp nhàng để tạo ra giá trị tổng thể. Thành phố Hồ Chí Minh sở hữu lợi thế lớn với hệ thống bệnh viện quốc tế, nguồn nhân lực y tế chất lượng cao và hạ tầng giao thông phát triển. Tuy nhiên, mức độ liên kết giữa các thành viên trong chuỗi vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu nâng cao hiệu quả liên kết giúp tối ưu chi phí, rút ngắn thời gian phục vụ và nâng tầm thương hiệu du lịch y tế TP.HCM trên thị trường quốc tế.

1.1. Khái niệm chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch y tế

Chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch y tế là mạng lưới liên kết giữa nhiều đơn vị cung cấp nhằm phục vụ khách hàng có nhu cầu kết hợp khám chữa bệnh và du lịch. Mô hình này bao gồm ba hoặc nhiều doanh nghiệp, kết nối qua các dòng chảy sản phẩm, dịch vụ, thông tin và tài chính. Các thành viên tâm điểm thường là bệnh viện hoặc cơ sở y tế có thương hiệu mạnh. Khách hàng nhận diện thương hiệu qua chất lượng dịch vụ y tế gốc. Quản trị chuỗi cung ứng đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp nhà cung cấp, từ cấp thứ nhất đến các cấp xa hơn. Liên kết theo chiều dọc cho phép kiểm soát quy trình, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động tổng thể.

1.2. Đặc điểm liên kết trong chuỗi cung ứng du lịch y tế

Liên kết trong chuỗi cung ứng du lịch y tế có tính đặc thù riêng biệt so với các ngành dịch vụ khác. Dịch vụ y tế đòi hỏi tiêu chuẩn chất lượng cao, tính chính xác và độ tin cậy tuyệt đối. Khách du lịch y tế thường có nhu cầu phức hợp, vừa cần chăm sóc sức khỏe vừa cần trải nghiệm du lịch. Tính mùa vụ ảnh hưởng đáng kể đến lưu lượng khách. Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên trong chuỗi rất lớn. Một mắt xích yếu có thể ảnh hưởng toàn bộ chuỗi. Do đó, cơ chế chia sẻ thông tin thời gian thực và cam kết chất lượng giữa các bên là yếu tố then chốt đảm bảo liên kết bền vững.

II. Phân tích thực trạng và thách thức liên kết chuỗi cung ứng du lịch y tế TP

Thực trạng liên kết chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch y tế tại TP.HCM cho thấy nhiều vấn đề cần giải quyết. Các nhân tố ảnh hưởng bao gồm cơ chế chính sách nhà nước, điều kiện kinh tế xã hội, nhu cầu khách hàng và mức độ hội nhập quốc tế. Chính sách quản lý nhà nước đối với du lịch y tế còn phân tán, thiếu cơ chế phối hợp liên ngành rõ ràng. Nhu cầu khách du lịch y tế biến động theo mùa và chịu tác động từ tình hình kinh tế toàn cầu. Hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng bị giới hạn bởi rủi ro vận hành, rủi ro thông tin và rủi ro môi trường. Hệ thống thông tin giữa các thành viên chưa đồng bộ. Nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu hụt. Giá cả dịch vụ chưa cạnh tranh so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Singapore. Những thách thức này đòi hỏi giải pháp tổng thể và đồng bộ.

2.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả liên kết

Nhiều nhân tố tác động đến hiệu quả liên kết chuỗi cung ứng du lịch y tế tại TP.HCM. Nhân tố về cơ chế chính sách bao gồm quy định quản lý nhà nước, tiêu chuẩn dịch vụ y tế và chính sách visa. Nhân tố kinh tế xã hội ảnh hưởng qua thu nhập bình quân, tỷ giá hối đoái và xu hướng tiêu dùng. Nhu cầu và tính mùa vụ của khách du lịch y tế tạo biến động lớn về lưu lượng. Hiệu quả hoạt động nội tại của chuỗi cung ứng quyết định khả năng cạnh tranh. Hội nhập quốc tế mở ra cơ hội hợp tác nhưng cũng đặt ra yêu cầu nâng cao tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ.

2.2. Các rủi ro trong liên kết chuỗi cung ứng

Rủi ro vận hành phát sinh từ chất lượng dịch vụ không ổn định, sự thay đổi sở thích khách hàng và tình trạng hủy hợp đồng. Rủi ro thông tin xuất phát do lựa chọn sai phương tiện truyền thông, cơ sở hạ tầng công nghệ yếu và hệ thống thiếu an ninh mạng. Rủi ro môi trường bao gồm chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng, sự kiện bất khả kháng như thiên tai hay dịch bệnh, và chính sách vĩ mô không ổn định. Các rủi ro này có thể lan truyền dọc chuỗi cung ứng. Một mắt xích gặp sự cố sẽ ảnh hưởng toàn bộ hệ thống. Quản trị rủi ro hiệu quả đòi hỏi cơ chế cảnh báo sớm và kế hoạch dự phòng.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả liên kết chuỗi cung ứng du lịch y tế TP

Giải pháp nâng cao hiệu quả liên kết cần tiếp cận từ nhiều chiều. Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế phối hợp liên ngành giữa y tế, du lịch và giao thông. Thứ hai, xây dựng nền tảng công nghệ thông tin tập trung, cho phép chia sẻ dữ liệu thời gian thực giữa các thành viên chuỗi. Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt nhân sự có kiến thức cả về y tế và quản trị du lịch. Thứ tư, xây dựng thương hiệu du lịch y tế TP.HCM thống nhất trên thị trường quốc tế. Thứ năm, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ y tế cao cấp kết hợp nghỉ dưỡng. Thứ sáu, áp dụng tiêu chuẩn chất lượng quốc tế như JCI để tăng uy tín. Thứ bảy, phát triển cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng giữa các thành viên nhằm tạo động lực hợp tác lâu dài.

3.1. Hoàn thiện cơ chế chính sách và quản lý nhà nước

Cơ chế chính sách là nền tảng quan trọng để nâng cao hiệu quả liên kết. Cần xây dựng quy hoạch tổng thể du lịch y tế cấp thành phố, xác định rõ vai trò từng ngành. Ban hành tiêu chuẩn dịch vụ du lịch y tế bắt buộc áp dụng cho tất cả thành viên trong chuỗi. Đơn giản hóa thủ tục cấp phép cho cơ sở y tế phục vụ khách quốc tế. Thiết lập cơ chế ưu đãi thuế và tín dụng cho doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng du lịch y tế. Thành lập hiệp hội ngành nghề chuyên biệt để điều phối hoạt động liên kết. Tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo và chuyển giao công nghệ y tế.

3.2. Nâng cao năng lực liên kết và ứng dụng công nghệ

Năng lực liên kết giữa các doanh nghiệp quyết định hiệu quả toàn chuỗi. Cần xây dựng hệ thống quản lý quan hệ nhà cung cấp dựa trên tiêu chí đánh giá minh bạch. Ứng dụng công nghệ blockchain để đảm bảo truy xuất nguồn gốc dịch vụ và thanh toán an toàn. Phát triển nền tảng đặt dịch vụ tích hợp, cho phép khách hàng đặt lịch khám, khách sạn và tour du lịch trong một hệ thống. Đầu tư vào phân tích dữ liệu lớn để dự báo nhu cầu khách hàng. Xây dựng cơ chế phản hồi nhanh giữa các mắt xích khi có sự cố. Đào tạo kỹ năng quản trị chuỗi cung ứng cho đội ngũ quản lý cấp trung tại các doanh nghiệp du lịch và y tế.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn nâng cao liên kết du lịch y tế TP

Nghiên cứu cho thấy nâng cao hiệu quả liên kết chuỗi cung ứng du lịch y tế tại TP.HCM là yêu cầu cấp thiết. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sự phối hợp đồng bộ giữa các thành viên trong chuỗi tạo ra giá trị vượt trội. Mô hình liên kết hiệu quả giúp giảm chi phí vận hành, nâng cao chất lượng dịch vụ và tăng khả năng cạnh tranh quốc tế. TP.HCM có tiềm năng trở thành trung tâm du lịch y tế hàng đầu Đông Nam Á. Tuy nhiên, hành trình này đòi hỏi nỗ lực liên tục từ chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng y tế. Bài học kinh nghiệm từ các nước phát triển như Thái Lan, Singapore và Ấn Độ cho thấy vai trò then chốt của chính sách hỗ trợ và đầu tư hạ tầng. Ứng dụng thực tiễn cần bắt đầu từ cải thiện hệ thống thông tin và đào tạo nhân lực chất lượng cao.

4.1. Ý nghĩa khoa học và đóng góp lý luận

Nghiên cứu đóng góp vào kho tàng lý luận về quản trị chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch y tế. Mô hình phân tích nhân tố ảnh hưởng giúp hệ thống hóa kiến thức về liên kết chuỗi trong ngành dịch vụ đặc thù. Kết quả nghiên cứu bổ sung bằng chứng thực nghiệm từ thị trường Việt Nam, bổ trợ cho các lý thuyết chuỗi cung ứng quốc tế. Khung phân tích rủi ro được xây dựng phù hợp bối cảnh nước đang phát triển. Phương pháp tiếp cận liên ngành giữa quản trị kinh doanh và quản lý y tế mở ra hướng nghiên cứu mới cho các nhà khoa học.

4.2. Ứng dụng thực tiễn và đề xuất triển khai

Kết quả nghiên cứu có giá trị ứng dụng cao cho nhiều đối tượng. Chính quyền TP.HCM có thể sử dụng để xây dựng quy hoạch du lịch y tế. Doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng áp dụng mô hình đánh giá hiệu quả liên kết để cải thiện hoạt động. Bệnh viện quốc tế tham khảo để nâng cao dịch vụ khách hàng quốc tế. Công ty lữ hành xây dựng sản phẩm du lịch y tế chuyên nghiệp hơn. Các bước triển khai nên bắt đầu từ thí điểm nhóm doanh nghiệp tiên phong, sau đó nhân rộng ra toàn ngành. Đánh giá định kỳ giúp điều chỉnh chiến lược phù hợp biến động thị trường.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

20/04/2026
Nâng cao hiệu quả liên kết trong chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch y tế tại thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục bảng, hình, tài liệu tham khảo, Luận án được bố cục theo các chương như sau: Chương 1: Cơ sở lý luận hiệu quả liên kết trong chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch y tế Chương 2: Thực trạng hiệu quả liên kết trong chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch y tế tại thành phố Hồ Chí Minh Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả liên kết trong chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch y tế tại thành phố Hồ Chí Minh. 16 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LIÊN KẾT TRONG CHUỖI CUNG ỨNG DỊCH VỤ DU LỊCH Y TẾ 1.1 CHUỖI CUNG ỨNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. Một số định nghĩa chuỗi cung ứng Đối với các nhà quản trị trên thế giới, chuỗi cung ứng là một tài sản chiến lược. (2011) [1] “Chuỗi cung ứng là mạng lưới của những tổ chức có liên quan đến những mối liên kết các dòng chảy ngược và xuôi theo những tiến trình và những hoạt động khác nhau nhằm tạo ra giá trị trong từng sản phẩm cho khách hàng”.M (1998) [2] "Chuỗi cung ứng là sự liên kết giữa các công ty chịu trách nhiệm mang sản phẩm hoặc dịch vụ ra thị trường".

(2009) [3] "Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các giai đoạn liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc thoả mãn yêu cầu của khách hàng". Có nhiều cách phát biểu về CCƯ, nhưng các định nghĩa trên đều phản ánh CCƯ bao gồm toàn bộ các công ty tham gia vào quá trình thiết kế, sản xuất và cung cấp sản phẩm ra thị trường. Nhà sản xuất có thể nhận nguyên liệu từ nhiều nhà cung cấp khác nhau và cũng phân phối sản phẩm của mình tới nhiều nhà thương mại hay khách hàng ở các khu vực thị trường khác nhau. Vì vậy, đa số các CCƯ thực sự là các mạng lưới.

Đồng thời, một doanh nghiệp sẽ là thành viên của nhiều CCƯ khác nhau và đóng các vai trò, chức năng khác nhau trong từng chuỗi đó. Khái niệm về chuỗi cung ứng xuất hiện từ những năm 60 của thế kỉ XX, nghĩa là có trước khi bắt đầu xuất hiện khái niệm logistics (business logistics). Khi đó, chuỗi cung ứng là đơn lẻ, nhưng khi người ta kết hợp cả việc cung ứng vật tư, kĩ thuật, nguyên vật liệu,. với việc phân phối sản phẩm, việc xây dựng các chuỗi cung ứng mang một bộ mặt khác, nó là một phần không thể thiếu 17 được khi nghiên cứu, áp dụng logistics.

Chuỗi cung ứng có thể hình dung như một đường ống hoặc một cái máng dùng cho dòng chảy của sản phẩm/vật tư, dịch vụ, thông tin và tài chính từ nhà cung ứng qua nhiều tổ chức, công ty trung gian cho đến tận người tiêu dùng. Như vậy, một chuỗi cung ứng sẽ bao gồm các đơn vị tham gia với những dịch vụ logistics cụ thể. Khi logistics ra đời và phát triển ở nhiều công ty – mà dạng đơn giản nhất của logistics là sự sát nhập cung ứng vật tư (inbound logistics) vào phân phối sản phẩm (outbound logistics), cùng với quan điểm giá thành tổng thể, quan điểm chuỗi giá trị cũng được đưa vào xem xét. Những năm 90 của thế kỉ XX, với sự phát triển của logistics, các chuỗi cung ứng hiện đại hình thành và phát triển mạnh ở nhiều công ty.

Ngày nay, để cạnh tranh thành công trong bất kỳ môi trường kinh doanh nào, các doanh nghiệp không chỉ tập trung vào hoạt động của riêng mình mà phải tham gia vào công việc kinh doanh của nhà cung cấp cũng như khách hàng. Bởi lẽ, khi doanh nghiệp muốn đáp ứng sản phẩm hoặc các dịch vụ cho khách hàng, buộc phải quan tâm nhiều hơn đến dòng dịch chuyển nguyên vật liệu; thiết kế, đóng gói sản phẩm và dịch vụ của nhà cung cấp; cách thức vận chuyển, bảo quản sản phẩm hoàn thành và những mong đợi thực sự của người tiêu dùng hoặc khách hàng cuối cùng. Thực tế là có nhiều doanh nghiệp có thể không biết sản phẩm của họ được sử dụng như thế nào trong việc tạo ra sản phẩm cuối cùng cho khách hàng, cũng như tính hiệu quả của các dịch vụ cung ứng. Cạnh tranh có tính toàn cầu ngày càng khốc liệt, chu kỳ sống của sản phẩm mới ngày càng ngắn hơn, mức độ kỳ vọng của khách hàng ngày càng cao hơn đã thúc ép các doanh nghiệp phải đầu tư và tập trung nhiều vào chuỗi cung ứng của nó.

Thêm vào đó, những tiến bộ liên tục và đổi mới trong công nghệ, truyền thông, vận tải, đã thúc đẩy sự phát triển không ngừng của chuỗi cung ứng và những kỹ thuật để quản lý nó. Trong một chuỗi cung ứng điển hình, doanh nghiệp mua nguyên vật liệu từ một hoặc nhiều nhà cung cấp; các bộ phận, chi 18 tiết hoặc thậm chí sản phẩm sau đó được sản xuất ở một hay một số nhà máy và được vận chuyển đến nhà kho để lưu trữ ở giai đoạn trung gian, cuối cùng đến nhà bán lẻ và khách hàng. Vì vậy, để giảm thiểu chi phí và cải thiện mức độ phục vụ, các chiến lược chuỗi cung ứng hiệu quả phải xem xét đến sự tương tác ở các cấp độ khác nhau trong chuỗi cung ứng. Chuỗi cung ứng, cũng được xem như mạng lưới hậu cần, bao gồm các nhà cung cấp, các trung tâm sản xuất, nhà kho, các trung tâm phân phối và các cửa hàng bán lẻ, cũng như nguyên vật liệu, tồn kho trong quá trình sản xuất và sản phẩm hoàn thành dịch chuyển giữa các cơ sở.

Có rất nhiều định nghĩa về chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các doanh nghiệp tham gia, một cách trực tiếp hay gián tiếp, trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng, thể hiện sự dịch chuyển nguyên vật liệu xuyên suốt quá trình từ nhà cung cấp ban đầu đến khách hàng cuối cùng. Mục đích then chốt của bất kỳ chuỗi cung ứng nào là nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng trong tiến trình tạo ra lợi nhuận cho chính doanh nghiệp. Các hoạt động chuỗi cung ứng bắt đầu với đơn đặt hàng của khách hàng và kết thúc khi khách hàng thanh toán đơn đặt hàng của họ. Chuỗi cung ứng (Supply chain) là một hệ thống các tổ chức, con người, hoạt động, thông tin và các nguồn lực liên quan tới việc di chuyển sản phẩm hay dịch vụ từ nhà cung cấp hay nhà sản xuất đến người tiêu dùng (Consumer).

Hoạt động chuỗi cung ứng liên quan đến biến chuyển các tài nguyên thiên nhiên, nguyên liệu và các thành phần thành một sản phẩm hoàn chỉnh để giao cho khách hàng cuối cùng (người tiêu dùng). Trong các hệ thống chuỗi cung ứng phức tạp, các sản phẩm được sử dụng có thể tái nhập vào chuỗi cung ứng tại bất kỳ điểm nào giá trị còn lại có thể tái chế được. Chuỗi cung ứng liên kết các chuỗi giá trị. Chuỗi cung ứng là sự liên kết các công ty nhằm đưa sản phẩ m ̣ vu ̣ vào thị trường (Lambert và Cooper, 2000).

Như vậy, chuỗi cung hay dich ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp 19 ứng nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuấ t và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán sản phẩ m và thành phẩm, phân phối chúng cho khách hàng (Ganeshan và Terry, 1995). Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuấ t hay nhà cung cấp, mà còn bao gồm nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng (Chopra và Peter, 2001). Thuật ngữ chuỗi cung ứng gợi nên hình ảnh sản phẩm hoặc cung cấp dịch chuyển từ nhà cung cấp đến nhà sản xuất rồi đến nhà phân phối và đến nhà bán lẻ đến khách hàng dọc theo chuỗi cung ứng.

Điều quan trọng là dòng thông tin, sản phẩm và tài chính dọc cả hai hướng của chuỗi này. Trong thực tế, nhà sản xuất có thể nhận nguyên liệu từ một số nhà cung cấp và sau đó cung ứng đến nhà phân phối. Vì vậy, đa số các chuỗi cung ứng thực sự là các mạng lưới. Đây chính là lý do chuỗi cung ứng được xem như là mạng lưới hậu cần.

Có thể hiểu rằng chuỗi cung ứng như là một dạng thức tương đồng của một chuỗi các mắt xích, trong đó mắt xích là các doanh nghiệp, tổ chức, hộ sản xuất kinh doanh tham gia và chúng được giao kết trong một quá trình làm gia tăng giá trị. Ở đây, thuật ngữ "chuỗi cung ứng" gợi lên hình ảnh sản phẩm/dịch vụ di chuyển từ nhà cung cấp đến nhà sản xuất, qua nhà phân phối và tới tay người tiêu dùng dọc theo chuỗi cung ứng. Trong đó, các dòng vật chất, dòng thông tin, dòng tài chính và dòng thương mại chạy dọc theo cả hai hướng trong chuỗi. Thực chất, quản trị chuỗi cung ứng là quản trị các dòng chảy giữa các thành viên nhằm tối đa hóa lợi nhuận tổng thể chuỗi.

Tóm lại, định nghĩa chuỗi cung ứng được hiểu theo nhiều cách khác nhau, có trừu tượng, có cụ thể, có khái quát,…Theo Tác giả “Chuỗi cung ứng là một tập hợp gồm ba hay nhiều doanh nghiệp, kết nối trực tiếp hoặc gián tiếp bằng một hay nhiều dòng chảy của sản phẩm, dịch vụ, thông tin và tài chính trong quá trình đáp ứng yêu cầu của khách hàng”. Mô hình chuỗi cung ứng 20 1.1 Mô hình chuỗi cung ứng theo chiều dọc (1) Cấu trúc theo chiều dọc của chuỗi cung ứng phản ánh số lượng các cấp dọc theo chiều dài chuỗi. Khoảng cách từ nhà cung cấp đầu tiên đến khách hàng cuối cùng chính là khoảng cách theo chiều dọc của chuỗi. Sự phân định theo cấp chức năng của các thành viên trong chuỗi cho phép nhận diện thành viên tâm điểm.

Một số chuỗi, khách hàng nhận diện thành viên (doanh nghiệp, tổ chức) tâm điểm qua thương hiệu của sản phẩm gốc đầu tiên, cho dù doanh nghiệp đó có hay không chức năng sản xuất. Thành viên tâm điểm giữ mối giao kết dạng quản lý quy trình đối với cấp khách hàng và nhà cung cấp thứ nhất; Giữ mối giao kết dạng giám sát đối với cấp thứ 2 trở đi; Mối giao kết không phải theo dạng quản lý quy trình đối với các cấp xa hơn; Mối giao kết không phải thành viên giữa các thành viên trong và ngoài chuỗi. (2) Liên kết theo chiều dọc là một chiến lược theo đó một công ty sở hữu hoặc kiểm soát các nhà cung cấp, nhà phân phối hoặc địa điểm bán lẻ của mình để kiểm soát chuỗi giá trị và cung ứng. Liên kết theo chiều dọc mang lại lợi ích cho các công ty bằng cách cho phép họ kiểm soát qui trình, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ