CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.Hoạt đông huy động vốn của ngân hàng thương mại.Khái niệm huy động vốn. - Khái niệm Ngân hàng thương mại Theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 của Việt Nam: “ Ngân hàng là loại hình Tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm NHTM, Ngân hàng chính sách và ngân hàng hợp tác xã”. Luật này cũng nêu rõ: “Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng có thể thực hiện tất cả các hoạt động của ngân hàng nhằm mục tiêu lợi nhuận”.Rose đã đưa ra khái niệm mới về ngân hàng như sau: “ Ngân hàng là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”.
Theo luật Ngân hàng của Pháp thì Ngân hàng được định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào đó thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác, hay hình thức khác số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính.” Tóm lại, khái niệm về ngân hàng thương mại hiện nay là chưa thống nhất. Tuy nhiên, từ những điểm thống nhất chung, em xin phép đưa ra khái niệm về ngân hàng thương mại như sau: “ Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, cung cấp một danh mục dịch vụ tài chính tổng hợp, Sv: Nguyễn Thị Hạnh 4 Lớp: CQ50/15.05 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp Học viện Tài chính với ba loại hình chủ yếu là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và làm dịch vụ thanh toán, nhằm mục tiêu lợi nhuận”. -Khái niệm huy động vốn của ngân hàng thương mại: Hoạt động huy động vốn có thể hiểu một cách đơn giản như sau: “Huy động vốn là nghiệp vụ tiếp nhận nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các tổ chức, cá nhân bằng nhiều hình thức khác nhau để tạo nên nguồn vốn hoạt động của ngân hàng”. Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả.
Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất của bất kỳ NHTM nào. Bản chất của vốn huy động là các tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau. Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả đúng gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi họ có nhu cầu rút vốn. Vốn huy động có vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của NHTM.
Nó cũng là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh. Thông thường vốn chiếm tỷ trọng khoảng 90% tổng nguồn vốn. Do đó hoạt động huy vốn của Ngân hàng càng hiệu quả thì tổng nguồn vốn của Ngân hàng sẽ tăng, là tiền đề để tiến hành hoạt động sử dụng vốn.Đặc điểm vốn huy động. - Vốn huy động trong NHTM chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn vốn của NHTM.
Các NHTM hoạt động được chủ yếu là nhờ vào nguồn vốn này. - Vốn huy động, về mặt lý thuyết là một nguồn vốn không ổn định vì khách hàng có thể rút tiền của họ mà không bị ràng buộc – vì đặc điểm này mà các NHTM phải duy trì một khoản “dự trữ thanh khoản” để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng. - Có chi phí sử dụng tương đối cao và chiếm tỷ trọng chi phí đầu vào rất lớn trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Sv: Nguyễn Thị Hạnh 5 Lớp: CQ50/15.05 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp Học viện Tài chính - Đây là nguồn vốn có tính cạnh tranh gay gắt giữa các Ngân hàng.
- Vốn huy động chỉ được sử dụng trong các hoạt động tín dụng và bảo lãnh, các Ngân hàng không được sử dụng nguồn vốn này để đầu tư.Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại.Huy động tiền gửi. Huy động tiền gửi không kỳ hạn: Tiền gửi không kỳ hạn là hình thức gửi tiền mà người gửi tiền có thể rút ra sử dụng bất cứ lúc nào. Tiền gửi không kỳ hạn có lãi suất thấp hoặc không trả lãi bao gồm: - Tiền gửi thanh toán: là khoản tiền gửi không kỳ hạn, trước hết được sử dụng để tiến hành thanh toán chi trả cho các hoạt động hàng hóa dịch vụ và các khoản phát sinh trong quá trình kinh doanh một các thường xuyên, an toàn và thuận lợi. Tiền gửi thanh toán thường được quản lý tại Ngân hàng trên tài khoản tiền gửi thanh toán và tài khoản vãng lai.
- Tiền gửi không kỳ hạn thuần túy: là khoản tiền gửi được ký gửi với mục đích bảo quản an toàn tài sản. Khi cần khách hàng có thể rút ra để chi tiêu. Cũng giống như trường hợp trên, ngân hàng phải thỏa mãn yêu cầu của khách hàng khi họ có nhu cầu rút tiền và chỉ được phép sử dụng tài khoản khi đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả. Ở Việt Nam tiền gửi loại này được thể hiện dưới các hình thức như: Tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức, cá nhân.
Do tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt còn thấp, để khuyến khích thanh toán qua ngân hàng, các NHTM Việt Nam trả lãi cho loại tiền gửi này chiếm vị trí quan trọng trong kết cấu nguồn vốn và có chi phí đầu vào rất thấp. Có thể nói tiền gửi không kỳ hạn là một nguồn để các ngân hàng huy động vốn với chi phí thấp, trong khi đó quy mô vốn huy động được khá lớn. Tuy nhiên, việc sử dụng các nguồn tiền này gặp nhiều bất lợi bởi nó mang tính chất không ổn định, do khách hàng có thể gửi hoặc rút ra bất cứ khi nào, Sv: Nguyễn Thị Hạnh 6 Lớp: CQ50/15.05 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp Học viện Tài chính đặt ngân hàng trước rủi ro thanh khoản. Do đó, muốn sử dụng hiệu quả nguồn vốn này, ngân hàng phải tiến hành nghiên cứu kỹ lưỡng về đặc điểm kinh doanh, thu nhập, chi tiêu,… của khách hàng để có kế hoạch khai thác hiệu quả.
Huy động tiền gửi có kỳ hạn Đây là loại tiền gửi có sự thỏa thuận trước giữa khách hàng và ngân hàng về thời hạn gửi và rút tiền. Đại bộ phận tiền gửi này có nguồn gốc từ tích lũy và ký thác để hưởng lãi. Các NHTM nhận hại loại tiền gừi có kỳ hạn đó là tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi báo rút. Đây là nguồn tiền tương đối ổn định, ngân hàng có thể sử dụng phần lớn để kinh doanh.
Chính vì vậy, NHTM luôn tìm các để đa dạng hóa hai loại tiền gửi này nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng. Tiền gửi tiết kiệm Xét về bản chất, tiền gửi tiết kiệm là một phần thu nhập của dân cư gửi vào ngân hàng với mục đích tích lũy tiền một cách an toàn và hưởng một phần lãi từ số tiền đó. Tiền gửi tiết kiệm là một dạng đặc biệt để tích lũy tiền tệ trong lĩnh vực tiêu dùng cá nhân. Trên thực tế tiền gửi tiết kiệm được phát triển dưới hai hình thức: - Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có thể rút bất cứ lúc nào, song không được sử dụng các công cụ nợ thanh toán để chi trả cho người khác.
Đối với khoản tiền này, chủ tài khoản có thể rút tiền ra bất kỳ lúc nào mà không phải báo trước. Tuy nhiên, số dư tài khoản thường không lớn, nhưng có ưu điểm hơn so với các khoản tiền gửi giao dịch ở chỗ: Số dư này ít biến động. Vì vậy, ngân hàng trã lãi suất cho khoản tiền này cao hơn với tiền gửi thanh toán. Đó là điều kiện để các NHTM có thể dễ dàng huy động số vốn này.
Sv: Nguyễn Thị Hạnh 7 Lớp: CQ50/15.05 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp Học viện Tài chính - Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có sự thỏa thuận về thời gian gửi và rút tiền, có mức lãi suất cao hơn so với tiền gửi không kỳ hạn. Và lãi suất tỷ lệ thuận với độ dài kỳ hạn, những khoản gửi càng lâu thì lãi suất càng cao.Tiền gửi tiết kiệm được coi là một công cụ huy động vốn truyền thống của các NHTM. Vốn huy động từ tài khoản tiền gửi tiết kiệm thường chiếm một tỷ trọng đáng kể. Tiền gửi tiết kiệm còn có thể chia ra thành ba loại: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn ngắn và kỳ hạn dài.
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn ngắn: Loại này khá quen thuộc ở Việt Nam, NHTM Việt Nam thường huy động tiết kiệm với các kỳ hạn 3 tháng đến 1 năm. Về nguyên tắc, khách hàng chỉ được rút ra khi đến hạn. Song, để tăng tính cạnh tranh các NHTM vẫn cho phép khách hàng rút trước thời hạn (với những quy định cụ thể). - Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn dài: Rất phổ biến ở một số nước công nghiệp phát triển.
Tiền gửi tiết kiệm dài hạn chỉ được phép rút ra khi đến hạn. Nó tạo lên nguồn vốn có tính ổn định cho hoạt động cấp tín dụng dài hạn của NHTM. Để đảm bảo khả năng thanh toán của mình, các NHTM có thể huy động bằng cách vay các tổ chức tín dụng khác thông qua thị trường nội địa ngoại tệ liên ngân hàng. Việc thực hiện quan hệ tín dụng giữa các NHTM phải được tiến hành theo nguyên tắc “đi vay – cho vay” và phải được thỏa thuận trên cơ sở hợp đồng tín dụng, vốn đi vay phải đảm bảo bằng thế chấp, cầm cố (tiền mặt tại chỗ và các giấy tờ có giá).
Các NHTM đi vay chấp hành đầy đủ các nguyên tắc dự trữ bắt buộc và an toàn vốn, phải có tài khoản tiền gửi thanh toán hoạt động thường xuyên tại NHTW. Khi các NHTM vay mượn của nhau mà vẫn thiếu vốn hoặc khả năng thanh toán bị đe dọa, các NHTM thực hiện vay vốn tại NHTW để tạo thêm nguồn vốn bổ sung cho hoạt động kinh doanh Sv: Nguyễn Thị Hạnh 8 Lớp: CQ50/15.05 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp Học viện Tài chính của mình. Nguồn vốn của NHTW là nguồn vốn cuối cùng đảm bảo khả năng thanh toán bình thường cho các NHTM.