CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TIẾNG ANH CHUYÊN NGÀNH THÔNG TIN – THƯ VIỆN 1. Tổng quan về tiếng Anh chuyên ngành 1. Khái niệm “Tiếng Anh chuyên ngành” Trong quá trình hình thành và phát triển, đã có nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “tiếng Anh chuyên ngành”. Có thể kể đến một số tác giả với những nhận định tiêu biểu sau đây: Hutchinson & Water (1987) cho rằng TACN là: “một hướng tiếp cận trong giảng dạy ngôn ngữ nhằm đáp ứng nhu cầu học của nhóm người học cụ thể”.
Nghĩa là, TACN được dùng để phục vụ công việc ở từng chuyên ngành khác nhau. Tác giả chỉ rõ việc dạy TACN cần phải dựa trên nguyên tắc đầu tiên là giảng dạy và học tập hiệu quả [2]. Dudley-Evans (1998) TACN được thiết kế nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của người học. TACN có thể sử dụng những phương pháp giảng dạy khác với phương pháp giảng dạy tiếng Anh phổ thông trong những tình huống cụ thể.
Nó có thể được hiểu là mọi nội dung và phương pháp dạy TACN đều xuất phát từ nhu cầu của người học [3]. Như vậy các tác giả trên đều thống nhất rằng TACN phải phục vụ mục đích cụ thể và đáp ứng nhu cầu của người học. Đây cũng chính là điểm khác biệt so với tiếng Anh cơ bản (phục vụ những yêu cầu chung, yêu cầu căn bản của bất kỳ người học ngôn ngữ nào). Vai trò của người học Dudley-Evans và John khẳng định rằng TACN thường được thiết kế cho sinh viên bậc đại học, cao đẳng hay những người học để phục vụ mục đích nghề nghiệp.
Hầu hết các khóa học TACN đều yêu cầu người học phải có những hiểu biết cơ bản về tiếng Anh. Trong một vài trường hợp cụ thể, nó có thể được dạy cho những người mới học [3]. TACN được thiết kế dựa trên nhu cầu của người học cho nên họ cần đưa ra mục tiêu chính xác và những gì muốn học để có được một khóa học như ý. Đồng thời, sức mạnh ý chí, sự quyết tâm và 7 Luan van thái độ tích cực của người học cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình học tập của chính mình.
Người học TACN thành công là người có thể vận dụng kiến thức và kỹ năng được học vào công việc như đọc sách - báo chuyên ngành, dịch thuật tài liệu, tìm kiếm thông tin, giao tiếp, viết báo cáo hay thư điện tử, v. Vai trò của người dạy Tác giả Ellis, Johnson (1994) đề xuất rằng [4]: giảng viên dạy TACN cần tốt nghiệp đại học ngành Ngôn ngữ Anh. Để xây dựng bài giảng thành công, họ phải là những người linh hoạt và biết lắng nghe sinh viên; am hiểu về chuyên ngành đó và có khả năng thiết kế khóa học cũng như phương pháp giảng dạy phù hợp; cần cộng tác với giảng viên chuyên ngành. Ngoài việc truyền tải kiến thức, giảng viên cần thúc đẩy sinh viên sử dụng kiến thức vào thực tế học tập và làm việc.
Đề xuất này cũng có điểm tương đồng với Duddley Evans và John (1998). Tuy nhiên, hai tác giả đã sử dụng từ “chuyên gia TACN” thay cho “người dạy TACN” vì cho rằng vai trò của họ vượt qua chức trách của người thầy. Nhiều ý kiến cho rằng người dạy TACN phải có kiến thức về chuyên ngành mà mình dạy. Điển hình là Robinson (1991), theo tác giả người dạy TACN phải có đủ kiến thức về ngôn ngữ, về giáo học pháp và lĩnh vực chuyên môn của người học.
Điều này đã tạo ra chủ đề tranh luận giữa dạy TACN với dạy chuyên ngành bằng tiếng Anh. Về vấn đề trên, Bojovié (2006) đã đưa ra ý kiến rằng: người dạy TACN là chuyên gia trong lĩnh vực tiếng Anh chứ không phải trong lĩnh vực chuyên ngành; môn học họ dạy là tiếng Anh cho ngành nghề chứ không phải dạy ngành nghề bằng tiếng Anh. Giảng viên TACN giúp sinh viên – những người có hiểu biết về ngành nghề tốt hơn họ phát triển các kỹ năng cần thiết để hiểu, sử dụng và trình bày những thông tin nguyên bản trong ngành nghề của họ [5]. Thiết kế khóa học và phát triển tài liệu Thiết kế khóa học Hutchinson và Water (1987) cho rằng: thiết kế khóa học TACN phải dựa trên quan điểm dạy ngôn ngữ, tập trung vào phát triển kỹ năng ngôn ngữ và phù hợp với nhu cầu người học.
Tác giả nhấn mạnh: “Tất cả các khóa học đều phải dựa trên nhu cầu của người học, kể cả khóa học giao tiếp đơn thuần” [2]. Phân tích cụ thể những gì người học muốn 8 Luan van học, hệ thống kiến thức đã có và những lỗ hổng còn thiếu của họ là một việc quan trọng nhằm xác định phạm vi kiến thức cần giảng dạy. Qua đó, đáp ứng đúng nội dung học tập và tạo hứng thú cho người học. Ở một diễn biến khác, Thạc sĩ Võ Đình Phước đưa ra 5 đề xuất để xây dựng chương trình đào tạo: xác định mục tiêu đào tạo, tổ chức giảng dạy, lựa chọn nội dung chương trình, phương pháp đánh giá, tài liệu giảng dạy [6].
Hơn nữa, chương trình đào tạo phải lấy người học làm trung tâm để xây dựng những nội dung thiết thực, đáp ứng nhu cầu và sở thích học tập của sinh viên. Từ những nhận định trên, có thể thấy một khóa học TACN chất lượng đều phải dựa trên các nguyên tắc: - Đảm bảo mục tiêu đào tạo; - Đảm bảo chất lượng đào tạo; - Đảm bảo khoa học, cập nhật, khả thi; - Đảm bảo tính hiệu quả và tính ứng dụng của khóa học. Phát triển tài liệu Phát triển tài liệu khóa học bao gồm tài liệu giảng dạy và tài liệu học tập. Trước khi xây dựng tài liệu cần xác định các yếu tố sau: mục tiêu của chương trình đào tạo, nhu cầu người học, tiêu chuẩn và cách thức đánh giá tài liệu, từ đó làm cơ sở để lựa chọn và tổ chức nội dung sao cho hợp lý bổ sung.
Mặt khác, người xây dựng cần đảm bảo tính hiệu quả và ứng dụng của tài liệu. Đặc biệt cần xác định mức độ phân hóa trọng tâm giữa các kỹ năng của từng ngành học. Ví dụ, trong thời kỳ hội nhập như hiện nay ngành TT-TV khong chỉ chú trọng đến kỹ năng đọc hiểu chuyên ngành mà kỹ năng giao tiếp cũng chiếm vị trí quan trọng. Do đó, để đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người học và những đòi hỏi khắt khe của ngành nghề, học liệu nên tăng cường nội dung cho hai kỹ năng này.
Tổng quan về tiếng Anh chuyên ngành Thông tin – Thư viện 1. Giới thiệu ngành Thông tin – Thư viện Thông tin – Thư viện (Library and Information Science - LIS) được coi là một nghề dẫn dắt tương lai, là yếu tố trung tâm và động lực phát triển của nền kinh tế tri thức. Ngành 9 Luan van TT-TV tạo cơ hội để con người tiếp cận tri thức, hỗ trợ hoạt động giáo dục, giúp ươm mầm những ý tưởng và tầm nhìn mới, đóng vai trò quan trọng trong kiến thiết các quốc gia hiện đại [7]. Vì vậy, sứ mệnh của ngành TT-TV là đào tạo nguồn nhân lực có đầy đủ tri thức, kỹ năng và công cụ để đáp ứng kịp thời sự phát triển của một xã hội sáng tạo và thích ứng với môi trường mạng đầy tiềm năng.
Trong đó, tri thức là nền tảng học vấn của ngành TT-TV bao gồm các khái niệm, bản chất, quy luật. Công cụ là phương tiện, phương pháp để thực hiện công việc như: phân tích hệ thống, tổ chức cấu trúc, phương tiện kỹ thuật tin học, mạng, v. Kỹ năng đối với cán bộ TT-TV như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng công nghệ (tìm tin trực tuyến, phát triển ứng dụng, v.), kỹ năng làm việc trong môi trường cộng đồng. Trong bối cảnh công nghệ thông tin phát triển như vũ bão cơ hội nghề nghiệp dành cho sinh viên TT-TV được mở rộng.
Sau khi tốt nghiệp sinh viên có thể làm việc tại các thư viện trường học, trung tâm thông tin, giảng dạy trong các trường học, nghiên cứu ở các Viện thông tin hoặc các tổ chức doanh nghiệp với nhiều vị trí khác nhau theo 3 nhóm nghề nghiệp chính: cán bộ kỹ thuật, cán bộ chuyên môn, cán bộ quản lý [8]. Khái niệm “tiếng Anh chuyên ngành Thông tin – Thư viện” Từ những tìm hiểu về TACN nên trên, có thể thấy tiếng Anh chuyên ngành TTTV là ngôn ngữ được sử dụng trong chuyên môn làm việc hoặc phục vụ học tập trong lĩnh vực TT-TV bao gồm hệ thống thuật ngữ và cấu trúc ngữ pháp. TACN giúp người học có được thông tin họ cần cho các mục đích cụ thể và nâng cao kỹ năng nghiệp vụ, sau đó là cải thiện vốn thuật ngữ và cách diễn đạt đặc thù được sử dụng trong ngành nghề TT-TV. Suy cho cùng, học TACN TT-TV đơn giản chỉ là việc sinh viên đọc, nghe - hiểu TACN qua sách, báo - tạp chí chuyên ngành, video bài giảng hay các tài liệu liên quan bằng tiếng Anh một cách thường xuyên nhằm thỏa mãn những vướng mắc về một vấn đề cụ thể của chuyên ngành.
Khi có nhiều cơ hội tiếp xúc, người học dễ dàng ghi nhớ các thuật ngữ chuyên ngành và có thể sử dụng thành thạo trong thực tế. Đôi khi, TACN cũng được học một cách bài bản thông qua các giáo trình, sách hướng dẫn. Như vậy, kiến thức TACN cũng có thể được thu nhận trong hoạt động tìm hiểu về chuyên môn bằng tài liệu nước ngoài của người học và không nhất thiết phải học theo từng lesson truyền thống. Đặc điểm của tiếng Anh chuyên ngành Thông tin – Thư viện 1.
Phong cách ngôn ngữ Ngôn ngữ TT-TV bao gồm những thuật ngữ riêng và phù hợp với hoạt động của chuyên ngành. Xét về phong cách ngôn ngữ, ngôn ngữ TT-TV của những cán bộ hoạt động trong thời đại bùng nổ thông tin, thời đại của những thư viện số và tài liệu điện tử khác với ngôn ngữ của những cán bộ thư viện với tư cách là những người giữ kho sách truyền thống. Trước đây, ngôn ngữ TT-TV gần với ngôn ngữ thường ngày. Đó có thể là những từ ngữ bình thường được ghép lại với nhau tạo thành một thuật ngữ.
Còn hiện nay, người sử dụng ngôn ngữ TT-TV bên cạnh việc sử dụng từ ngữ, cấu trúc ngữ pháp, phải có tri thức và kinh nghiệm về TT-TV với tư cách là một khoa học. Điều này có nghĩa là sinh viên Thông tin – Thư viện cần hệ thống thuật ngữ để lắp ráp vào kiến thức chuyên môn và diễn đạt bằng tiếng Anh [1].