PHẦN MỞ ĐẦU Đảng ta đã xác định “Sự cường tráng về thể chất là nhu cầu của bản thân con người đồng thời là vốn quí để tạo ra tài sản trí tuệ và vật chất cho xã hội”, vì vậy “Tạo chuyển biến tích cực về chất lượng và hiệu quả GDTC trong trường học” và “Thực hiện GDTC trong tất cả các trường học nhằm mục tiêu làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của học sinh, sinh viên” là trách nhiệm chung của toàn xã hội, trong đó ngành TDTT và GD&ĐT đóng vai trò chủ đạo [3], [8], [59]. GDTC trong đào tạo ở bậc đại học là quá trình gồm: GDTC nội khóa và hoạt động thể thao ngoại khóa, là hai mặt khác nhau về hình thức tổ chức thực hiện nhưng thống nhất về mục tiêu; là hai giai đoạn của một quá trình giáo dục với phương châm: Học đi đôi với hành; đào tạo kết hợp với tự đào tạo. Vì vậy, để hoạt động GDTC thực sự có hiệu quả, ngoài sự cố gắng của nhà trường, đòi hỏi sinh viên phải chủ động và tích cực tham gia với vai trò chủ thể, xuất phát từ nhu cầu của bản thân [80]. Trước yêu cầu đổi mới nền giáo dục nước nhà theo hướng căn bản và toàn diện, công tác đào tạo giáo viên của các nhà trường sư phạm đang có những thay đổi lớn cả về mục tiêu và chuẩn đầu ra: Sinh viên khi ra trường phải có trình độ chuyên môn tiệm cận với qui định chuẩn nghề nghiệp của giáo viên từng cấp học; có khả năng tự học, tự phát triển trình độ, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đổi mới giáo dục qua từng thời kỳ; có khả năng tổ chức các hoạt động TDTT phục vụ công tác giáo dục học sinh.
Trong điều kiện đó, GDTC ở các nhà trường sư phạm còn là nội dung và hình thức đào tạo nhằm góp phần nâng cao năng lực hoạt động nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên tương lai. Năm 1996, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã Quyết định thành lập cụm các trường ĐH&CĐSP vùng Trung Bắc gồm các trường: ĐHSPHN2, Đại học 2 Hùng Vương, Đại học Tân Trào, CĐSP Vĩnh Phúc, CĐSP Yên Bái, CĐSP Lào Cai, CĐSP Hà Giang nhằm tạo điều kiện để các nhà trường hỗ trợ nhau trong hoạt động đào tạo đội ngũ giáo viên cho các cấp học. Công tác GDTC nội và ngoại khóa luôn được các nhà trường quan tâm, tạo điều kiện phát triển; hoạt động thi đấu thể thao đã trở thành một trong những phương tiện giao lưu quan trọng giữa các nhà trường; cơ sở vật chất phục vụ hoạt động dạy và học môn học GDTC không ngừng được đầu tư và phát triển, góp phần tạo ra sự phong phú, lành mạnh cho đời sống học đường trong mỗi nhà trường. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích rất đáng trân trọng đó, công tác GDTC trong các trường ĐH&CĐSP vùng Trung Bắc còn một số tồn tại cơ bản: “Chương trình chính khóa cũng như nội dung hoạt động ngoại khóa còn nghèo nàn, chưa hợp lý, không hấp dẫn sinh viên tham gia” [77].
Các nhà trường chưa có Hội thể thao Đại học, công tác tổ chức hoạt động thể thao ngoại khóa chưa phát huy được tiềm năng và hiệu lực của các cấp quản lý. Cơ chế tổ chức hoạt động đào tạo, nội dung và yêu cầu của GDTC nội khóa theo học chế tín chỉ chưa được vận dụng để biến thành động lực thúc đẩy sinh viên tích cực tham gia hoạt động ngoại khóa; giờ tự học chưa được sử dụng có hiệu quả, đào tạo năng lực tự học cho sinh viên chưa trở thành mục tiêu và sản phẩm của GDTC trong các nhà trường; công tác đánh giá và xếp loại thể lực của sinh viên chưa được triển khai theo qui định của Bộ GD&ĐT. Giữa GDTC nội khóa và ngoại khóa thiếu sự liên kết, đồng bộ; đa số sinh viên không thực hiện giờ tự học đối với môn học; các hình thức hoạt động ngoại khóa thiếu cân đối giữa phong trào có tính bề nổi với các hoạt động rèn luyện thân thể theo nhu cầu cá nhân của sinh viên. 3 Chất lượng, hiệu quả của hoạt động thể thao ngoại khóa hoàn toàn phụ thuộc vào mức độ tự nguyện và tích cực của sinh viên; sinh viên không phải chịu bất cứ trách nhiệm nào về thái độ thờ ơ của bản thân và sự yếu kém của phong trào.
Nhà trường chỉ đóng vai trò kêu gọi, động viên và tạo mọi điều kiện để thu hút sinh viên tham gia phong trào; tính pháp lý của cơ chế đào tạo theo học chế tín chỉ, của môn học chưa được vận dụng để tạo thành động lực nhằm phát triển tính tự nguyện, nhu cầu và trách nhiệm của sinh viên đối với hoạt động thể thao ngoại khóa. Thực tiễn giáo dục đã chứng minh: Thể thao ngoại khóa là loại hình hoạt động mang tính tự nguyện của sinh viên, nhằm thỏa mãn nhu cầu rèn luyện thân thể và vui chơi giải trí; góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả GDTC của mỗi nhà trường. Tuy nhiên, trước yêu cầu của đổi mới công tác đào tạo giáo viên và yêu cầu của học chế tín chỉ, thể thao ngoại khóa còn là hình thức cơ bản của hoạt động tự học (theo nội dung và qui định của GDTC nội khóa) và tự rèn luyện nghiệp vụ tổ chức hoạt động giáo dục học sinh. Vì vậy, tác động để nâng cao hiệu quả hoạt động thể thao ngoại là vấn đề cấp thiết của thực tiễn, đòi hỏi các nhà trường ĐH&CĐSP vùng Trung Bắc cần có những đổi mới cơ bản sau: Có một bộ máy chuyên trách về công tác tổ chức, điều hành hoạt động thể thao ngoại khóa nhằm hình thành và phát triển phong trào tập luyện cả về phạm vi và tính bền vững; phát triển cân đối giữa phong trào chung của toàn trường với hoạt động tập luyện thường xuyên của mỗi sinh viên.
Tổ chức hoạt động GDTC nội khóa theo hướng: Tạo cơ chế và động lực để phát triển phong trào ngoại khóa, thực hiện chức năng “Hình thành thói quen luyện tập cho sinh viên”; đảm bảo cho hoạt động ngoại khóa của sinh viên đồng thời tích hợp ba tiêu chí: Tự nguyện - tự học - tự phát triển [26]. 4 Tạo cơ hội và điều kiện để biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo; biến hoạt động ngoại khóa thành phương tiện để sinh viên tự học và hoàn thành nội dung của chương trình GDTC nội khóa. Vì những lý do nêu trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thể thao ngoại khóa trong các trƣờng Đại học, Cao đẳng Sƣ phạm vùng Trung Bắc". Mục đích nghiên cứu Xuất phát từ ưu thế của học chế tín chỉ, đề tài hướng tới mục đích: Chuyển hóa nội dung và yêu cầu của GDTC nội khóa trong các trường ĐH&CĐSP vùng Trung Bắc thành động lực để phát triển phong trào thể thao ngoại khóa; biến yêu cầu tự học thành nhu cầu của sinh viên, đảm bảo cho phong trào phát triển bền vững cả bề rộng và chiều sâu.
Mục tiêu nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài xác định hai mục tiêu nghiên cứu sau: Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng GDTC nội khóa và hoạt động thể thao ngoại khóa trong các trường ĐH&CĐSP vùng Trung Bắc. Mục tiêu 2: Nghiên cứu biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thể thao ngoại khóa trong các trường ĐH&CĐSP vùng Trung Bắc; thực nghiệm và đánh giá hiệu quả. Giả thuyết khoa học của đề tài Đề tài nêu giả thuyết rằng: Trong mỗi nhà trường ĐH&CĐSP vùng Trung Bắc, hoạt động thể thao ngoại khóa chưa trở thành phong trào sâu rộng và bền vững, thiếu bộ máy chuyên trách để thống nhất tổ chức và quản lý phong trào, GDTC nội khóa chưa trở thành động lực để phát triển nhu cầu tập luyện cho sinh viên. Thực trạng nêu trên sẽ được khắc phục cơ bản nếu quá trình nghiên cứu lựa chọn được các biện pháp đảm bảo tính khoa học và khả thi.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 1. Đào tạo giáo viên và quá trình đổi mới đào tạo giáo viên Đào tạo giáo viên là một trong những lĩnh vực giáo dục và đào tạo ra đời sớm nhất của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh thành lập ngành sư phạm với nhiệm vụ: “Đào tạo những nam nữ giáo viên cho các bậc học cơ bản, trung học phổ thông, trung học chuyên khoa, thực nghiệm và chuyên nghiệp trong toàn quốc”.
Sắc lệnh cũng chỉ rõ: “Chỉ tuyển nam nữ giáo viên cho các bậc học phổ thông và chuyên nghiệp trong những người có bằng sư phạm sơ cấp, trung cấp hoặc cao cấp”. Điều đó đã khẳng định, giáo viên và đào tạo giáo viên có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, giáo viên phải được đào tạo thông qua hệ thống nhà trường sư phạm các cấp [53]. Từ năm 1950, các nhà trường trung cấp và CĐSP đã được thành lập ở chiến khu Việt Bắc và các Liên khu. Với hình thức đào tạo ngắn hạn, hàng ngàn thanh niên đã trở thành giáo viên các cấp học.
Trong giai đoạn từ năm 1965 đến năm 1970, số lượng giáo viên mới được đào tạo tăng gấp 5 lần so với giai đoạn từ năm 1950 đến năm 1965, điều đó đã chứng minh vai trò và sứ mệnh của hệ thống các nhà trường sư phạm đối với sự nghiệp bảo vệ và kiến thiết đất nước [13], [20]. Thống kê của Bộ GD&ĐT cho thấy, tính đến năm 2014 cả nước có 76 nhà trường (34 trường ĐHSP và khoa sư phạm trong các trường đại học đa ngành, 42 trường CĐSP và khoa sư phạm trong các trường cao đẳng đa ngành) có chức năng đào tạo giáo viên các cấp cho bậc học phổ thông, được phân bố trong hầu hết các tỉnh, thành cả nước nhằm cung cấp kịp thời đội ngũ giáo viên cho từng địa phương, đặc biệt là đối với bậc học mầm non và tiểu học [23]. 6 Khác với nhiều nước trên thế giới - đào tạo giáo viên được tiếp nối sau khi sinh viên đã tốt nghiệp các chuyên ngành đào tạo khác - ở Việt Nam, đào tạo giáo viên được thực hiện đồng thời giữa đào tạo chuyên ngành với đào tạo nghiệp vụ sư phạm. Đặc biệt, giáo viên bậc học mầm non và tiểu học, sinh viên được đào tạo tổng hợp nhiều lĩnh vực để có thể đảm nhiệm toàn bộ chương trình của bậc học, cấp học.