Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về trắc nghiệm khách quan Chương 2: Xây dựng câu hỏi TNKQ dạng MCQ về DTH để tổ chức dạy học Di truyền học Chương 3: Sử dụng câu hỏi TNKQ dạng MCQ về DTH để tổ chức dạy học kiến thức mới cho HS Chương 4. Thực nghiệm sư phạm 16 z Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lí luận của đề tài: 1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu: 1.1 Trên thế giới [11], [19]: Theo Trần Trọng Thủy, từ những năm 2000 tr. CN, người Trung Hoa đã biết dùng trắc nghiệm trí tuệ để chọn người hầu, thê thiếp. Theo Questin Stodola, Kemer Stordahl, Nguyễn Phụng Hoàng- Võ Ngọc Lan [17]…, khoa học đánh giá bằng trắc nghiệm lần đầu tiên được tiến hành vào thế kỉ XVII- XVIII ở khoa Vật lí, Tâm lí và sau đó lan dần sang ngành Động vật học.
Phòng thí nghiệm Tâm lí đầu tiên được Wichelm Weent thành lập tại Leipzig (Đức) năm 1879. Ban đầu các nhà nghiên cứu chú trọng đến các phép đo có liên quan đến thính giác , thị giác, tốc độ phản xạ, sau đó mới nghiên cứu đến thời gian nhận thức, tốc độ học tập…. Francis Galton vận dụng những nguyên tắc của Darwin trong tác phẩm “Nguồn gốc các loài” (Origin of species – 1859) về sự khác nhau giữa các loài , vào khảo sát sự khác biệt giữa các cá thể về tính chất sinh lí và tâm lí liên quan đến yếu tố di truyền. Ông cho rằng đặc điểm trí tuệ, thể lực và cả bản sắc cá nhân cũng được di truyền.
Nhằm chọn lọc những người có thể làm bố mẹ tốt nhất, Galton đã triển khai các trắc nghiệm để đo các đặc điểm con người có liên quan đến trí tuệ. Bài trắc nghiệm này nhanh chóng được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước , vì nó tỏ ra là một công cụ hữu hiệu hơn bất cứ một phương pháp nào khác để phân biệt trí tuệ của trẻ em ở các trường học. Theo Trần Bá Hoành, vào đầu thế kỉ XX, E. Thorm Dike là người đầu tiên đã dùng TNKQ như là phương pháp “khách quan và nhanh chóng” để đo trình độ học sinh, bắt đầu dùng với môn Số học và sau đó là với một số môn khác.
Giữa thế kỉ XX phong trào sử dụng trắc nghiệm để đánh giá rất phát triển, thậm chí ra đời các bài trắc nghiệm 17 z chuyên ngành có tính kinh doanh. Cuối thế kỉ XX, cùng với những ứng dụng rộng rãi của công nghệ tin học, người ta đã kết hợp cài đặt các chương trình, xử lí kết quả trên diện rộng, nhờ đó phương pháp TNKQ đã được coi là phương pháp khoa học và hiện đại trong kiểm tra đánh giá. TNKQ hiện nay rất phổ biến trong các trường học tại các nước Âu Mỹ. Có rất nhiều nghiên cứu về kĩ thuật đo lường trong giáo dục bằng TNKQ, nghiên cứu kĩ thuật xây dung câu hỏi TNKQ, ưu và nhược điểm của chúng, đánh giá chính xác kết quả học tập kết hợp với xử lí trên máy tính các số liệu về xây dung và sử dụng nhanh chóng TNKQ.
Các nhà nghiên cứu như: W. Glaser … đã nghiên cứu ưu điểm của trắc nghiệm, tiêu chí, nguyên tắc, thủ tục, kĩ thuật xây dựng loại câu trắc nghiệm này, tính toán đọ giá trị, độ tin cậy của câu trắc nghiệm, bài trắc nghiệm, giải thích các điểm số của bài trắc nghiệm. Nhiều công trình nghiên cứu, đo lường, đánh giá kết quả học tập đã công bố như: T. Stanlay… Các tác giả này đi sâu vào phương pháp đo lường từng lĩnh vực của mục tiêu giáo dục, phân biệt rõ từng loại trắc nghiệm, xác định nguyên tắc xây dựng và sử dụng từng loại trắc nghiệm.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu xây dựng và lựa chọn cách thức sử dụng CHTN như thế nào để đảm bảo cao cho việc đo lường và đánh giá tùy theo yêu cầu của từng môn học và từng mục đích đánh giá. Tuyển tập trắc nghiệm trước khi vào học giáo trình (pre-tesst) của nhiều tác giả do Doulags Sawyer chủ biên về tế bào học, đề cập đến các lĩnh vực như cấu trúc và chức năng của màng tế bào, sự vận chuyển các chất qua màng….Trong lĩnh vực Di truyền học, đáng chú ý là công trình của Janice Finkelstein, Golder Wilson về pre-test dùng cho sinh viên y khoa tự ôn tập, tự đánh giá, tự kiểm tra đánh giá khi học Di truyền người. Các kì thi Olimpic quốc tế về Sinh học (IBO) trong nhiều năm qua đã áp dụng TNKQ trong phần lớn đề thi lí thuyết và thực hành để đo mức độ hiểu biết của học sinh. Hình thức thi này đã được sự hưởng ứng của đông đảo các nước tham gia và tỏ ra có nhiều ưu điểm trong khâu chấm bài, làm bài vì các HS dự thi đa số bất đồng về ngôn ngữ.
18 z Với nhiều ưu điểm nổi trội của nó, ngày nay tại nhiều nước trên thế giới, TNKQ đã trở thành công cụ chủ yếu trong các trường học, thậm chí trong các chương trình đào tạo từ xa, HS nhận các bài TNKQ qua mạng vi tính trả lời vào đĩa hoặc hoặc vô tuyến truyền thông mà bày tỏ được kết quả học tập của mình, hoặc tự kiểm tra, tự đánh giá bằng các bài TNKQ để ôn luyện, củng cố trước khi bước vào cuộc thi chính thức có hiệu quả.2 Ở Việt Nam TNKQ được sử dụng từ rất sớm trên thế giới, song ở Việt Nam thì TNKQ lại xuất hiện muộn hơn và chỉ tập chung chủ yếu tại các thành phố lớn hoặc tại các viện nghiên cứu, các trường đại học đầu ngành của cả nước. Cụ thể: - TNKQ được biết đến và sử dụng đầu tiên tại Miền Nam từ những năm của thập kỉ 50 và phất triển khá mạnh vào những năm của thập kỉ 70. Năm 1956 đến 1960 trong các trường học đã sử dụng rộng rãi hình thức thi TNKQ ở bậc trung học, sớm nhất là môn Sinh học. Năm 1963, “Trắc nghiệm vạn vật lớp 12” của Lê Quang Nghĩa được xuất bản; năm 1964, “Phương pháp học và thi vạn vật lớp 12” của Phùng Văn Hướng được xuất bản.
Năm 1969, Dương Thiệu Tống đã giảng dạy “Trắc nghiệm thành quả học tập” cho các lớp cao học và Tiến sĩ giáo dục tại ĐHSP Sài Gòn. Như vậy, khoa học TNKQ chính thức được đưa vào chương trình dào tạo giáo viên và các nghiên cứu về TNKQ cũng khá phát triển lúc bấy giờ. Nhà khảo thí (trực thuộc Bộ giáo dục chế độ cũ) là nơi chuyên phát hành các đề thi TNKQ trong các kì thi cho các trường trung học. Năm 1974, kì thi tú tài toàn phần đã được thi bằng TNKQ.
Sau năm 1975 một số trường vẫn áp dụng TNKQ song có nhiều tranh luận nên hay không nên áp dụng TNKQ trong thi cử. - Từ những năm 1990, TNKQ thực sự được quan tâm và áp dụng ở nhiều cấp học. Đáng chú ý nhất là: Năm 1990, Bộ Y tế với sự giúp đỡ của đề án “Hỗ trợ hệ thống đào tạo” của chương trình hợp tác Việt Nam – Thụy Điển (03/SIDA) đã mở những khóa tập huấn cho giảng viên các trường Y tế, đã xây dựng được bộ công cụ đánh giá bằng 19 z TNKQ chuyên khoa, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường Y dược. Năm 1994, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với Viện công nghệ Hoàng Gia Melbourne (Australia), tổ chức các cuộc hội thảo với chủ đề “Kĩ thuật xây dựng CH TNKQ” tại các thành phố lớn: Thành phố Hồ Chí Minh.
Huế, Hà Nội. Năm 1995, với sự tài trợ của UNESCO trường Đại học Tổng hợp nay là Đại học Quốc Gia Hà Nội cũng đã mở nững lớp tập huấn về phương pháp xây dựng TNKQ cho nhiều giảng viên. - Tại các trương Đại học phương pháp TNKQ cũng được sử dụng rộng rãi. Tiêu biểu là ĐH Huế, năm 1993 đã đồng loạt triển khai việc soạn thảo ngân hàng câu hỏi Test cho từng chuyên ngành, đồng thời có các nghiên cứu cho sự định chuẩn các câu hỏi bằng những phương pháp hiện đại.
Người đóng góp tích cực cho lĩnh vực này là Giáo sư Nguyễn Phụng Hoàng (ĐH Sư phạm Huế). Gần đây phương pháp TNKQ mới thục sự được áp dụng rộng rãi tại các trường ĐH trong cả nước và đi đầu là ĐH Ngoại Ngữ, ĐH Sư phạm, ĐHQG HN, ĐH Y Khoa HN… - Năm 1971, GS. Trần Bá Hoành công bố “ Dùng phương pháp Test để kiểm tra nhận thức của học sinh về một số khái niệm trong chương trình Sinh học lớp 9”. Năm 1996-1997 Ông đã đề cập nhiều đến TNKQ trong các tài liệu “Đánh giá trong giáo dục”, “Tài liệu bồi dưỡng dạy SGK lớp 12 cải cách giáo dục môn Sinh học”.
Ông đã nhiều lận soạn bộ câu hỏi với 3 phương án chọn nhằm giúp giáo viên có ngân hàng câu hỏi, giúp HS ôn tập, củng cố kiến thức, bộ câu hỏi này đãn được in trong SGK chuyên ban KHTN. Lê Đình Trung với nghiên cứu về “Sử dụng câu hỏi TNKQ dạng MCQ để kiểm tra kết quả của việc giảng dạy tích cực ở phổ thông bằng bài toán nhận thức”. Trong nững năm gần đây tác giả Lê Đình Trung và Trịnh Nguyên Giao (ĐH Sư phạm HN), Nguyễn Viết Nhân (ĐH Y khoa TP.HCM) , Trần Hồng Hải (Trường chuyên HN) đã cho ra đời những bộ sach với những bộ câu hỏi soạn sẵn, tạo rất nhiều thuận lợi cho GV và HS áp dụng trong kiểm tra đánh giá. Một số luận văn Thạc sĩ khoa học chuyên ngành Di truyền học và giáo dục học cũng tiền hành theo hướng xây dựng và sử dụng câu hỏi TNKQ cho việc KT-ĐG và tự KT- ĐG ở trường ĐHSP, CĐSP: năm 1997 của Nguyễn Thị Kim Giang, năm 1998 của Đỗ 20 z Thị Lý, năm 2000 của Nguyễn Kỳ Loan….đã nghiên cứu, xây dựng và sử dụng CH TNKQ trong KT-ĐG và tự KT-ĐG kết quả học tập môn DTH.
Đáng chú ý là Luận án Tiến sĩ của Vũ Đình Luận (2005) [19] “Xây dựng và sử dụng CH TNKQ dạng MCQ để nâng cao chất lượng dạy học môn Di truyền học ở trường cao đảng sư phạm”. Trong Luận án này, tác giả đã có một số đề xuất về quy trình xây dụng và sủ dụng CH TNKQ trong KTĐG kết quả học tập môn DTH, luận án đã xây dựng 830 CHTNKQ để KTĐG kết quả học tập môn DTH cho sinh viên CĐSP.