CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các con đường nhận thức Theo quan điểm duy vật biện chứng, con đường biện chứng của quá trình nhận thức chân lí là từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Trong đó, trực quan sinh động bao gồm cảm giác và tri giác (nhận thức cảm tính), còn tư duy trừu tượng bao gồm tư duy và tưởng tưởng (nhận thức lí tính).
Nhận thức cảm tính Nhận thức cảm tính bao gồm cảm giác và tri giác. Trong đó cảm giác là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan. Còn tri giác là một quá trình tâm lí phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan. Như vậy, cả cảm giác và tri giác (nhận thức cảm tính) chỉ phản ánh được những thuộc tính bên ngoài của sự vật hiện tượng, chứ chưa cho thấy được các thuộc tính bản chất tồn tại bên trong của chúng.
Quá trình chuyển từ cảm giác đến tri giác thì sự nhận thức dần trở nên đầy đủ hơn, giúp ta xác định rõ ràng hơn về sự vật hiện tượng, bởi tri giác là một mức độ mới của nhận thức cảm tính. Đó không phải là tổng thể các thuộc tính riêng lẻ, mà là một sự phản ánh sự vật hiện tượng nói chung trong tổng hoà các thuộc tính của nó. Cả hai quá trình này đều tuân theo những quy luật cơ bản của nó. a) Cảm giác: Cảm giác là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan.
Đặc điểm của cảm giác - Cảm giác là một quá trình tâm lý, nghĩa là nó có nảy sinh, diễn biến và kết thúc. Kích thích gây ra cảm giác là chính các sự vật, hiện tượng trong thực tại khách quan và chính các trạng thái tâm lí của bản thân ta. Ở đây cần thấy sự 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khác biệt với khái niệm “cảm giác” như là sản phẩm của quá trình nhận thức. - Cảm giác chỉ phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của sự vật hiện tượng chứ không phản ánh được trọn vẹn các thuộc tính của sự vật, hiện tượng.
- Khi sự vật hiện tượng tác động vào giác quan của ta thì mới sinh ra cảm giác (cảm giác phản ánh hiện thực khách quan một cách trực tiếp). Bản chất của cảm giác Cảm giác là một hiện tượng tâm lý, có chung ở cả động vật và con người. Ở con người, cảm giác mang tính chất xã hội, khác xa về chất so với động vật. Bản chất xã hội của cảm giác ở con người thể hiện ở các đặc điểm sau: - Đối tượng phản ánh của cảm giác ở con người là các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên hoặc sự vật và hiện tượng do chính hoạt động xã hội của con người tạo ra.
- Cơ chế sinh lí của cảm giác ở người không chỉ giới hạn ở hệ thống tín hiệu thứ nhất mà còn bao gồm cả các cơ chế thuộc hệ thống tín hiệu thứ 2, nghĩa là nó có cơ sở của hoạt động thần kinh cấp cao và có bản chất xã hội. - Khác với động vật, cảm giác ở người chịu ảnh hưởng của nhiều hiện tượng tâm lí cao cấp khác. - Cảm giác ở người được phát triển mạnh mẽ và phong phú nhờ giáo dục, do đó nó mang đậm bản chất xã hội. Các loại cảm giác Căn cứ vào vị trí xuất hiện cảm giác, người ta chia cảm giác ra làm 2 loại.
Đó là cảm giác bên trong và cảm giác bên ngoài. * Những cảm giác bên ngoài Thuộc vào loại này là những cảm giác: thị giác, thính giác, khứu giác, vị 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giác, xúc giác. Trong đó, thị giác nảy sinh do tác động của các sóng ánh sáng (sóng điện từ phát) phát ra từ các sự vật. Thị giác có thể cho biết màu sắc, hình thù, kích cỡ, độ xa gần của các sự vật.
Nó cung cấp khoảng 90% lượng thông tin từ thế giới bên ngoài cho con người. Thính giác xuất hiện do những sóng âm, tức là những dao động của không khí gây nên. Cảm giác nghe phản ánh những thuộc tính của âm thanh, tiếng nói: Cao độ (tần số dao động), cường độ (biên độ dao động), và âm sắc (hình thức dao động). Tai người có thể nghe được các âm có cao độ từ 16 đến 20000Hz và tốt nhất ở cao độ 1000 Hz.
Thính giác có ý nghĩa rất quan trọng với đời sống con người, đặc biệt là qua giao lưu ngôn ngữ và cảm nhận một số loại hình nghệ thuật (âm nhạc, thơ ca…). Khứu giác thì có được khi các phân tử của các chất bay hơi tác động lên các tế bào thụ cảm của khoang mũi. Cảm giác ngửi cho biết tính chất của mùi. Vị giác thì được tạo nên do tác động của các thuộc tính hoá học của các chất hoà tan trong nước tác động nên cơ quan vị giác.
Cảm giác vị giác có 4 loại chính là: cảm giác ngọt, cảm giác chua, cảm giác mặn, cảm giác đắng. Còn xúc giác do những kích thích cơ học và nhiệt độ tác động lên da tạo nên. Xúc giác gồm 5 loại: Cảm giác đụng chạm, cảm giác nén, cảm giác nóng, cảm giác lạnh và cảm giác đau. Độ nhạy cảm của xúc giác ở các phần khác nhau đối với mỗi loại kích thích khác nhau là khác nhau, đối với những người khác nhau cũng khác nhau… * Những cảm giác bên trong - Cảm giác vận động và cảm giác sờ mó: là loại cảm giác phản ánh những biến đổi xảy ra trong các cơ quan vận động, báo hiệu mức độ co của cơ và vị trí của các phần khác nhau của cơ thể.
- Cảm giác thăng bằng - Cảm giác rung 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Cảm giác cơ thể d. Vai trò của cảm giác Trong cuộc sống nói chung và trong hoạt động nhận thức của con người nói riêng, cảm giác giữ một vai trò rất quan trọng. Trước hết, cảm giác là định hướng đầu tiên của con người trong hiện thực khách quan. Các cơ quan cảm giác đã tiếp nhận, chọn lọc và gửi về não hàng ngàn thông tin từ môi trường xung quanh và của chính cơ thể mình, nhờ đó con người có thể định hướng được trong không gian.
- Cảm giác cung cấp các nguyên liệu cho các quá trình nhận thức cao hơn. Lênin: Ngoài thông qua cảm giác, chúng ta không thể nhận được bất cứ hình thức nào của vật chất, cũng như bất cứ hình thức nào của vận động và tiền đề đầu tiên của lí luận về nhận thức chắc chắn nói rằng cảm giác là nguồn gốc duy nhất của hiểu biết. - Cảm giác là điều kiện quan trọng để đảm bảo các trạng thái hoạt động của vỏ não, nhờ đó đảm bảo các hoạt động tinh thần của con người diễn ra bình thường. - Cảm giác là con đường nhận thức hiện thực khách quan đặc biệt quan trọng với người khuyết tật, giúp họ có thể tham gia vào cuộc sống một cách dễ dàng hơn.
Các quy luật của cảm giác * Quy luật ngưỡng cảm giác Muốn có một cảm giác nào đó thì phải có sự kích thích vào các giác quan và kích thích đó phải đạt tới một giới hạn nhất định. Giới hạn mà ở đó kích thích gây ra được cảm giác gọi là ngưỡng cảm giác. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com * Quy luật thích ứng của cảm giác Sự thích ứng của cảm giác là khả năng thay đổi độ nhạy cảm của cảm giác cho phù hợp với sự thay đổi của cường độ kích thích. Nó giúp cho phản ánh được tốt nhất và bảo vệ hệ thần kinh.
* Quy luật tác động lẫn nhau của cảm giác Các cảm giác không tồn tại một cách độc lập, mà nó luôn tác động qua lại lẫn nhau. Trong sự tác động này, các cảm giác làm thay đổi tính nhạy cảm của nhau theo quy luật: Sự kích thích yếu lên một cơ quan phân tích này sẽ làm tăng độ nhạy cảm của một cơ quan phân tích khác và ngược lại. b) Tri giác: Tri giác là một quá trình tâm lí phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan. Đặc điểm của tri giác Tri giác cũng có những đặc điểm giống như cảm giác.
Tuy nhiên, tri giác còn có những đặc điểm nổi bật sau : - Tri giác phản ánh sự vật hiện tượng một cách trọn vẹn. - Tri giác phản ánh sự vật, hiện tượng theo những cấu trúc nhất định. Cấu trúc này không phải là tổng số của cảm giác, mà là sự khái quát đã được trừu xuất từ các cảm giác đó trong mối liên hệ qua lại giữa các thành phần của cấu trúc ấy ở một thời gian nào đó. - Tri giác là một quá trình tích cực, nó mang tính tự giác, giải quyết một nhiệm vụ nhận thức cụ thể nào đó.
Như vậy tuy tri giác là mức phản ánh cao hơn so với cảm giác nhưng vẫn thuộc giai đoạn nhận thức cảm tính, chỉ phản ánh được các thuộc tính bên ngoài, cá lẻ của sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào ta. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vai trò của tri giác Tri giác là điều kiện quan trọng trong sự định hướng hành vi và hoạt động của con người trong môi trường xung quanh. Hình ảnh của tri giác (hình tượng) thực hiện chức năng là vật điều chỉnh các hành động. Đặc biệt, hình thức tri giác cao nhất - quan sát - do những điều kiện xã hội, chủ yếu là do lao động, đã trở thành một mặt tương hỗ độc lập của hoạt động và trở thành một phương pháp nghiên cứu khoa học cũng như của nhận thức thực tiễn.
Nhận thức lí tính Giai đoạn tiếp theo của quá trình nhận thức là nhận thức lí tính bao gồm tư duy và tưởng tượng. Đây là giai đoạn cao hơn trong con đường nhận thức, giúp cho con người nhận thức toàn diện hơn về sự vật hiện tượng. Qua đó, con người thấy được cả bản chất của sự vật hiện tượng, những thuộc tính bên trong của nó. Tuy vậy, để nhận thức rõ ràng và sâu sắc một vấn đề nào đó, thì phải cần cả một quá trình, với nhiều hoạt động khác nhau, nhiều cách khám phá khác nhau.