Chương 1. Một số vấn đề lý luận về hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm hại tình dục trẻ em. Thực trạng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra tội xâm hại tình dục trẻ em trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2018-2022. Sự cần thiết và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra tội xâm hại tình dục trẻ em.
MOT SO VAN ĐÈ LÝ LUẬN VE HOẠT DONG THUC HANH QUYEN CONG TO, KIEM SAT HOAT DONG TU PHAP TRONG GIAI DOAN DIEU TRA CAC VU AN XAM HAI TINH DUC TRE EM 1. Khai niệm, đặc điểm, nội dung hoạt động thực hành quyền công tố va kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự 1. Khái niệm, đặc điểm, nội dung hoạt động thực hành quyền công to và kiểm sát hoạt động tư pháp Khái niệm thực hành quyên công tổ Dé làm rõ được khái niệm THQCT, trước hết cần làm rõ các khái niệm “công tố” và “quyền công tố”. Theo đó Quyên công tô được hiểu là quyên thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan (ở Việt Nam là Viện kiểm sat) dé nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử và bảo vệ sự truy cứu đó tại phiên toa.! Trên cơ sở khái niệm “quyền công tố” có thê hiểu đơn giản “2c hành quyên công to là việc sử dụng tổng hợp các quyên năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tô dé thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn diéu tra, truy to và xét xử", hay nói cách khác THOCT là hoạt động của VKS nhân dân trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và thực hiện buộc tội người đó tại Tòa an”.
Đối tượng của hoạt động thực hành quyển công tố: Pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành và các quy định của pháp luật có liên quan không quy định trực tiếp về đối tượng của hoạt động THQCT, nhưng căn cứ vào các quy định khác xác định đối tượng của hoạt động THQCT chính là hành vi phạm ' Trường Dai học Luật Hà Nội (2003), Bàn về quyền công tố, Hà Nội, Nxb CAND, tr 40 tội và người phạm tdi. Về phạm vi THOCT: Về phạm vi THQCT hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau như “phạm vi THQCT bắt đầu từ giai đoạn khởi tố vụ án”?, “phạm vi THỌCT hẹp hơn phạm vi quyền công tố””. Còn theo quan điểm của cá nhân tôi thời điểm bat đầu thực hành quyền công tổ chỉ khi tội phạm được phát hiện và cơ quan có thẩm quyền sử dụng quyền năng của mình dé chứng minh tội phạm, kết thúc khi có bản án có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định khác có ý nghĩa kết thúc quá trình buộc tội. Nội dung hoạt động thực hành quyên công to Nhu đã phân tích ở nội dung khái niệm, hoạt động THQCT của cơ quan công tố chính là việc cơ quan đó nhân dân Nhà nước thưc hiện việc buộc tội đối với người phạm tội.
Đề thực hiện được việc đó Nhà nước đã trao cho cơ quan tố tụng các quyền năng pháp ly cơ ban để những cơ quan này thực hiện quyền lực nhân danh Nhà nước. Theo quy định của Luật Tổ chức VKSND và BLTTHS hiện hành ở nước ta, nội dung các quyền này được quy định bao gồm: THQCT trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm; THQCT trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự; THỌCT trong giai đoạn truy tố; THQCT trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự; THỌCT trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự. Khái niệm hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp Song song với chức năng THQCT, VKS thực hiện chức năng kiểm sát HDTP, đây là một chức năng hiến định được quy định tại Hiến pháp, hoạt động này được thé hiện thông qua các nhiệm vụ, quyền hạn có tính giám sát của VKS đối với các cơ quan bị kiểm sát như CQDT, Co quan được giao ? Lê Thị Thanh Hằng, THCQT trong giai đoạn điều tra theo quy định của BTTHS năm 2003, luận văn thạc sĩ, trường Dai học Luật Hà Nội,2012, tr.13 3 Hoàng Xuân Dan, Ap dụng pháp luật trong THQCT ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự của VKSND ở tỉnh Yên Bái, luận văn thạc sĩ luật học, Học viện Chính trị - Hành chính quôc gia Hồ Chí Minh, 2011, tr.24 10 nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và đây là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước. Bản chất của hoạt động kiểm sát HĐTP chính là kiểm sát tính có căn cứ và tính hợp pháp của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiễn hành tổ tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
Do đó, có thé đưa ra khái niệm: Kiểm sát các hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát trong việc bảo đảm cho các hoạt động tổ tụng được thực hiện theo dung các trình tự, thu tục pháp luật quy định. Đối tượng của kiểm sát HĐTP là: sự tuân thủ pháp luật của các chủ thé tiễn hành HĐTP và một số chủ thé có liên quan khác trong việc giải quyết các vụ an. Về phạm vi của hoạt động tư pháp: Phạm vi thực hiện chức năng kiểm sát HĐTP của VKS được bắt đầu từ giai đoạn đầu của quá trình tố tụng, có nghĩa phát sinh hoạt động tố tụng của cơ quan tố tụng nhằm thực hiện việc buộc tội đối với người phạm tội sẽ phát sinh hoạt động kiểm sát dé đảm bảo sự tuân theo pháp luật của các chủ thể trong quá trình TTHS và hoạt động này kết thúc khi vụ án được giải quyết xong. Nội dung của hoạt động kiểm sát HĐTP là việc thực hiện các quyền hạn và nhiệm vụ do luật định để phát hiện các vi phạm pháp luật của các chu thé bị kiểm sát dé kịp thời yêu cầu khắc phục vi phạm pháp luật hoặc có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời.
Các công tác kiểm sát HĐTP có thé kê đến gồm: Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; Kiểm sát việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong giai đoạn truy tố; Kiểm sát việc xét xử vụ án hình sự; Kiểm sát việc tạm giữ, tam giam, thi hành án hình sự; Kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật; Kiểm sát việc thi hành án dân sự, thi hành án hành chính; 11 Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong HĐTP của các cơ quan có thâm quyền theo quy định của pháp luật; giải quyết khiếu nại, tổ cáo trong HDTP thuộc thâm quyền; Kiểm sát hoạt động tương trợ tư pháp. Khái niệm, đặc điểm, nội dung của thực hành quyền công to và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự Điều tra vụ án hình sự là giai đoạn quan trọng của quá trình TTHS, quyết định đến việc buộc tội đối với người phạm tội bởi giai đoạn nay có nhiệm vụ chính là thu thập tất cả các tài liệu chứng cứ có liên quan dé làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án. Phần lớn việc giải quyết oan, sai, bỏ lọt tội phạm xuất phát từ việc thu thập và đánh giá tài liệu chứng cứ trong giải đoạn điều tra, bởi kết quả điều tra là cơ sở dé VKS quyết định truy tô ra trước Tòa án để xét xử hoặc đình chỉ vụ án. Các chủ thế chính thực hiện các hoạt động TTHS trong giai đoạn điều tra là CQDT và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, trong một số trường hợp VKS cũng trực tiếp điều tra, tuy nhiên sau đó vẫn chuyên cho cơ quan điều tra thụ lý điều tra theo thấm quyền.
Các hoạt động điều tra trong giai đoạn điều tra được các chủ thể có thâm quyền tiến hành trên cơ sở các quy định của pháp luật thông qua các biện pháp điều tra đã được quy định theo một trình tự thủ tục nhất định. Như vậy, có thê rút ra khái niệm của giai đoạn điều tra vụ án hình sự như sau: Điêu tra vụ án hình sự là một giai đoạn của quả trình tổ tụng hình sự mà ở giai đoạn này các chủ thé có thẩm quyên thực hiện các biện pháp điều tra do luật định nhằm làm sáng tỏ tất cả các nội dung của vụ án dé làm cơ sở dé giải quyết đúng đắn vụ án. Trên cơ sở khái niệm THQCT, kiểm sát hoạt động tư pháp và khái niệm về giai đoạn điều tra vụ án hình sự đã trình bày ở các phần trên, có thể đưa ra khái nệm THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự như sau: 12 THOCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là hoạt động của Viện kiểm sát trong to tụng hình sự dé thực hiện việc buộc tội của Nhà nước từ khi khởi to vụ án cho đến khi cơ quan có thẩm quyên điêu tra kết thúc diéu tra, dé nghị truy t6; kết thúc diéu tra đình chỉ vụ án hoặc tạm đình chỉ vụ án. Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điêu tra các vụ án hình sự là hoạt động của Viện kiểm sát nhằm kiểm sát tính có căn cứ và tinh hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyên tiễn hành tổ tụng, người tham gia to tụng, của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trong việc giải quyết vụ án hình sự từ khi khởi to vụ án cho đến khi cơ quan có thẩm quyên diéu tra kết thúc điều tra, dé nghị truy tố; kết thúc diéu tra đình chỉ vụ án hoặc tạm đình chỉ vụ an.