phần mở đầu và kết luận, luận văn có câu trúc 4 chƣơng nhƣ sau: 3 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về tạo động lực làm việc và hiệu quả làm việc của ngƣời lao động Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng tạo động lực làm việc và hiệu quả làm việc của ngƣời lao động tại Công ty Cổ phần xây dựng và lắp máy Việt Nam Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện các biện pháp tạo động lực làm việc cho ngƣời lao động tại Công ty Cổ phần xây dựng và lắp máy Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả làm việc tại Công ty. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC VÀ HIỆU QUẢ LÀM VIỆC CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Tạo động lực lao động tại doanh nghiệp là rất quan trọng, ảnh hƣởng trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, đây là vấn đề thu hút đƣợc sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều các nhà khoa học.
Trên thế giới, có khá nhiều nghiên cứu về chủ đề tạo động lực làm việc. Một số công trình của các học giả nổi tiếng phải kể đến là: Nghiên cứu của Wallace D.Boeve (2007): Boeve đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố tạo động lực của các giảng viên khoa đào tạo trợ lý bác sỹ ở các trƣờng đại học Y tại Mỹ. Nghiên cứu của ông dựa trên cơ sở lý thuyết hệ thống học thuyết hai nhóm yếu tố của F.Herzberg và để bổ sung thêm cho học thuyết của Herzberg về các yếu tố bên trong và bên ngoài thì ông còn sử dụng thêm trong nghiên cứu của mình chỉ số mô tả công việc (JDI) của Smith, Kendall (1969). Theo đó nhân tố làm thỏa mãn công việc đƣợc chia thành hai nhóm: nhóm nhân tố nội tại bao gồm bản chất công việc và cơ hội thăng tiến và nhóm nhân tố bên ngoài bao gồm tiền lƣơng, sự hỗ trợ giám sát của cấp trên và mối quan hệ với đồng nghiệp.
Nghiên cứu của Abby M.Brooks đã tiến hành nghiên cứu bằng cách phỏng vấn thông qua bảng câu hỏi đối với 181 ngƣời đang làm việc toàn thời gian hoặc đã từng làm việc toàn thời gian trên khắp nƣớc Mỹ. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc kết hợp giữa hai nhân tố thiết lập mục tiêu và sự hài lòng trong công việc là cách tốt nhất để dự đoán động lực lao động của nhân viên và nhân tố ảnh hƣởng nhiều đến sự hài lòng của nhân viên là: đánh giá hiệu quả công việc, đào tạo, cấp trên và đóng góp cho tổ chức. 5 Nghiên cứu của Nadeem Shiraz và Majed Rashid (2011) thuộc Học viện Interdisciplinary Business Research, Pakistan với đề tài ‘‘Những tác động của quy chế khen thưởng và đánh giá trong động lực lao động và sự hài lòng” tập trung nghiên cứu vai trò của cơ hội thăng tiến và phong cách lãnh đạo để tạo động lực và hài lòng cho nhân viên. Kết quả nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ và sự khác nhau về động lực làm việc với sự hài lòng, cụ thể hơn là sự khác nhau giữa cơ hội thăng tiến và phong cách lãnh đạo trong tạo động lực lao động.
Tại Việt Nam, vấn đề tạo động lực lao động cũng dành đƣợc sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về tạo động lực lao động. Trong số đó, có thể kể đến một số đề tài sau: Đề tài “Hoàn thiện công tác tạo động lực ở Công ty TNHH cửa sổ nhựa Châu Âu (Euro Window) ” của tác giả Đỗ Thị Thu, Trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2008. Tác giả Đỗ Thị Thu đã đƣa ra cơ sở lý luận về công tác tạo động lực lao động trong doanh nghiệp một cách khá đầy đủ.
Tuy nhiên đề tài chƣa đi sâu phân tích các chính sách đang thực hiện tại công ty, chƣa làm rõ ảnh hƣởng của các chính sách, chế độ đó đến công tác tạo động lực lao động tại công ty. Các giải pháp để tạo động lực lao động mà tác giả đề xuất chủ yếu còn mang tính khái quát. Đề tài:“ Hoàn thiện công tác tạo động lực lao động tại Tổng công ty xi măng Việt Nam” của tác giả Mai Quốc Bảo- Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân. Tác giả Mai Quốc Bảo đã sử dụng các phƣơng pháp định lƣợng và định tính để phân tích, đánh giá thực trạng tạo động lực tại Tổng công ty xi măng Việt Nam.
Từ đó, tác giả đề xuất những giải pháp hoàn thiện công tác tạo động lực tại đơn vị: giải pháp về xác định nhu cầu của nhân viên, hoàn thiện 6 bảng tính lƣơng cho các vị trí việc làm trong công ty, thông qua bố trí, sử dụng hợp lý lao động, cải thiện điều kiện làm việc để tạo động lực lao động. Đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ kinh tế: “ Tạo động lực cho lao động quản lý trong các doanh nghiệp Nhà nước ở Hà Nội đến năm 2020” của tác giả Vũ Thị Uyên. Đề tài đã nêu tổng quan lý luận về tạo động lực lao động. Từ việc phân tích, đánh giá thực trạng tạo động lực cho ngƣời lao động quản lý trong các doanh nghiệp Nhà nƣớc ở Hà Nội, tác giả đã chỉ ra mặt tích cực và mặt hạn chế của các doanh nghiệp để từ đó đƣa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện tạo động lực lao động.
Nhƣ vậy, có khá nhiều nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về chủ đề tạo động lực cho ngƣời lao động. Có thể nói đây là vấn đề luôn đƣợc quan tâm nhằm nâng cao hiệu quả trong công việc của ngƣời lao động nói riêng và của tổ chức nói chung. Các nghiên cứu trong nƣớc và quốc tế nghiên cứu về động lực trong các bối cảnh cụ thể, từ đó đƣa ra các giải pháp mang tính đặc thù. tại một đơn vị cụ thể là Công ty cổ phần Xây dựng và Lắp máy Việt Nam, với nhu cầu nâng cao hiệu quả làm việc thông qua công tác tạo động lực cho ngƣời lao động chƣa đƣợc thực hiện một cách bài bản và khoa học.
Do vậy đây là khoảng trống cần nghiên cứu.2 Một số khái niệm cơ bản về động lực làm việc và hiệu quả làm việc của ngƣời lao động 1.1 Khái niệm về động lực làm việc Có rất nhiều khái niệm khác nhau về động lực làm việc, mỗi khái niệm đƣợc nhìn nhận theo các khía cạnh khác nhau, sau đây là một vài khái niệm đã đƣợc công nhận bởi những nhà kinh tế học trên thế giới: 7 Động lực làm việc đƣợc thể hiện thông qua quá trình tâm lý nhằm tạo ra sự kích thích, điều khiển, và kiên trì thực hiện của các hoạt động tự nguyện theo mục tiêu đã đƣợc định hƣớng (Mitchell, 1982). Theo Mitchell (1982), động lực bị thúc đẩy bởi yếu tố tâm lý và hành vi mà một ngƣời điều khiển hành động của mình để đạt đƣợc kết quả mong đợi. Theo Robbins (1998), động lực làm việc là sự sẵn sàng cố gắng hết sức để đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức, trong điều kiện nhu cầu cá nhân đƣợc thỏa mãn theo khả năng nỗ lực của họ. Định nghĩa này cho rằng nhu cầu cá nhân của một ngƣời đƣợc thỏa mãn thì sẽ tạo ra một lực thúc đẩy họ thực hiện tốt nhiệm vụ đƣợc giao.
Theo Pinder (1998), động lực làm việc là một tập hợp năng lƣợng làm việc có nguồn gốc bên trong và cả bên ngoài của một cá nhân để bắt đầu hành vi liên quan đến công việc, giúp xác định đƣợc cách thức, hƣớng chỉ đạo, cƣờng độ và thời gian cho công việc đó. Theo ông, động lực làm việc của một ngƣời bị tác động bởi hành vi đối với công việc mà họ đảm nhận, và hành vi đó xuất phát từ nội lực bên trong và phần thƣởng bên ngoài. Nhiều nghiên cứu cho rằng, động lực lao động đƣợc định nghĩa là sự khao khát và tự nguyện của ngƣời lao động để tăng cƣờng nỗ lực nhằm hƣớng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức. Theo cách hiểu này, động lực làm việc có đƣợc không xuất phát từ bất kỳ một sự cƣỡng chế nào, nó không phát sinh từ các mệnh lệnh hành chính, nó không biểu hiện qua lời nói mà qua hành động cụ thể, nó xuất phát từ trong nội tâm của ngƣời lao động (Trần Kim Dung, 2011).
Nhƣ vậy, động lực làm việc là những nhân tố kích thích con ngƣời tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao. Biểu 8 hiện của động lực là sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ bản thân ngƣời lao động 1.2 Khái niệm hiệu quả làm việc của người lao động Hiệu quả làm việc của ngƣời lao động là một chỉ tiêu chất lƣợng quan trọng trong hoạt động kinh doanh của mọi tổ chức trong các ngành kinh tế. Nó phản ánh trình độ sử dụng lao động chung của từng ngành và của toàn xã hội. Theo Guay, và các cộng sự (2010), hiệu quả làm việc của ngƣời lao động có thể hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
+ Theo nghĩa hẹp : hiệu quả làm việc của ngƣời lao động là kết qủa mang lại từ các mô hình, các chính sách quản lý và sử dụng lao động của ban lãnh đạo trong tổ chức. Hiệu quả làm việc của ngƣời lao động giúp nâng cao doanh thu, lợi nhuận của tổ chức nhờ năng suất lao động gia tăng. + Theo nghĩa rộng: Hiệu quả làm việc của ngƣời lao động là kết quả của công tác sử dụng lao động đúng ngành, đúng nghề đảm bảo sức khỏe, đảm bảo an toàn cho ngƣời lao động, là mức độ chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật lao động, khả năng sáng kiến cải tiến kỹ thuật ở mỗi ngƣời lao động.3 Vai trò của động lực làm việc và mối quan hệ giữa động lực làm việc và hiệu quả làm việc của ngƣời lao động 1.1 Vai trò của động lực làm việc Đối với người lao động Làm tăng năng suất lao động cá nhân: Khi có động lực lao động thì ngƣời lao động sẽ thấy yêu thích công việc và làm việc hăng say, kết quả là năng suất lao động cá nhân đƣợc nâng cao rõ rệt. Năng suất tăng lên dẫn tới tiền lƣơng cũng đƣợc nâng cao hơn trƣớc và nâng cao thu nhập cho ngƣời lao động.
9 Phát huy đƣợc tính sáng tạo: Tính sáng tạo thƣờng đƣợc phát huy khi con ngƣời cảm thấy thoải mái, tự nguyện khi thực hiện một công việc nào đó.