phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương, 8 tiết. 11 Chƣơng 1 HUYỆN ỦY LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CƠ SỞ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Lý luận chính trị, giáo dục lý luận chính trị, công tác giáo dục lý luận chính trị 1.
Lý luận chính trị Lý luận, hiểu theo nghĩa chung nhất là các khái niệm, phạm trù, quy luật được khái quát từ hoạt động thực tiễn của con người. Lý luận là kết quả nhận thức chủ quan của con người đối với những hiện tượng khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy [3, tr. Lý luận chính trị là từ ghép giữa lý luận và chính trị. Ở đây, lý luận được giới hạn ở lĩnh vực chính trị, khái niệm chỉ mối quan hệ giữa các giai cấp trong xã hội có giai cấp, xung quanh vấn đề giành hoặc giữ chính quyền của giai cấp mình.
Do vậy, LLCT được hiểu là những vấn đề lý luận gắn liền với cuộc đấu tranh giữa các giai cấp trong xã hội có giai cấp, xung quanh vấn đề giành và giữ chính quyền [3, tr. Theo các cấp độ, kiến thức l luận chính trị gồm: Những quy luật vận động của tự nhiên và xã hội, hệ thống quan điểm, luận điểm về thế giới (thế giới quan), hình thành hệ tư tưởng của một giai cấp (hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân); những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, sự thể hiện của chúng trong các điều kiện của thời đại; các mô hình, phương pháp luận vận dụng các nguyên lý chung của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của mỗi nước, mỗi giai đoạn phát triển của cách mạng, qua đó xây dựng, phát triển cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản (Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng 12 tạo vào hoàn cảnh cụ thể của nước mình phát triển hệ tư tưởng của giai cấp vô sản); cơ sở lý luận của đường lối, quan điểm của Đảng nói chung và của mỗi ngành, địa phương, lĩnh vực cụ thể và kết quả tổng kết thực tiễn trong quá trình thực hiện đường lối của Đảng. Giáo dục lý luận chính trị Giáo dục lý luận chính trị là quá trình phổ biến, truyền bá một cách cơ bản, có hệ thống nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Mục tiêu cao nhất của giáo dục lý luận chính trị nhằm xây dựng thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học, tạo nên bản lĩnh chính trị, niềm tin có cơ sở khoa học vững chắc vào mục tiêu, lý tưởng; nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn; giáo dục đạo đức, lối sống, tinh thần tự giác và tích cực trong các hoạt động xã hội của cán bộ, đảng viên và nhân dân.9-10] GDLLCT gồm hai hình thức cơ bản là đào tạo và bồi dưỡng lý luận chính trị.
Trong đó, đào tạo LLCT là giáo dục lý luận chính trị theo một chương trình đào tạo lý luận chính thức, có hệ thống, tương đối hoàn chỉnh, kết thúc chương trình học thường có cấp văn bằng hoặc chứng chỉ cho người học; bồi dưỡng LLCT là thực hiện việc giáo dục lý luận chính trị nhằm tăng cường kiến thức lý luận chính trị cho đối tượng được bồi dưỡng (đã học qua một hoặc một số chương trình đạo tạo lý luận chính trị hoàn chỉnh) nhằm củng cố hoặc bổ sung, làm sâu sắc thêm, cập nhật, mở rộng kiến thức đã được học và không có cấp văn bằng hay chứng chỉ sau khi kết thúc chương trình. Công tác giáo dục lý luận chính trị Công tác giáo dục lý luận chính trị là quá trình tổ chức, giáo dục, truyền bá một cách cơ bản, có hệ thống chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong Đảng và trong nhân dân, nhằm từng bước xây dựng thế giới quan, phương pháp luận khoa học, nhân sinh quan cách mạng, tạo nên bản lĩnh chính trị 13 vững vàng, niềm tin vững chắc vào mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn, đạo đức và lối sống lành mạnh, tinh thần tự giác và tính tích cực trong quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa. - Nội dung của Công tác giáo dục lý luận chính trị bao gồm: + GDLLCT theo trình độ lý luận bắt buộc đối với từng loại cán bộ theo yêu cầu chung của Đảng (chương trình cao cấp lý luận chính trị trong hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, chương trình đại học chính trị chuyên ngành, chương trình trung cấp lý luận chính trị - hành chính trong các trường chính trị,.) + GDLLCT phổ cập cho toàn thể cán bộ, đảng viên của Đảng tại các đảng bộ trên cơ sở và các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện (giáo trình giáo dục lý luận chính trị cho đối tượng kết nạp Đảng; bồi dưỡng lý luận chính trị cho đảng viên mới; chương trình sơ cấp lý luận chính trị.), trong lực lượng vũ trang,. + Đưa nội dung về LLCT của Đảng vào các chương trình của hệ thống giáo dục quốc dân, trong các loại trường lớp cho các đối tượng khác nhau.
+ Bồi dưỡng LLCT thường xuyên cho cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân, nhất là các vấn đề mới và theo các chương trình chuyên đề (thông qua các Hội nghị thông tin thời sự, các đợt tập huấn về LLCT và nghiệp vụ cho cán bộ cơ sở). + Tổ chức tuyên truyền, phổ biến LLCT trên hệ thống thông tin đại chúng, qua hoạt động của đội ngũ báo cáo viên. Công tác GDLLCT bao gồm bản thân các hoạt động giáo dục LLCT, đồng thời còn bao gồm toàn bộ các yếu tố: Xây dựng, ban hành nghị quyết, 14 chủ trương, đường lối và chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện, kiểm tra, sơ kết, tổng kết về giáo dục lý luận chính trị; xây dựng lực lượng, tổ chức thực hiện việc GDLLCT ; lãnh đạo, quản lý hoạt động GDLLCT. Trong hơn 80 năm qua, kể từ khi chính thức trở thành một bộ phận hợp thành quan trọng của công tác tư tưởng của Đảng, công tác GDLLCT đã góp phần trang bị cho cán bộ, đảng viên và nhân dân những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó có nhận thức đúng đắn về cương lĩnh, đường lối, vào con đường và biện pháp cách mạng do Đảng vạch ra; nâng cao nhận thức chính trị, giác ngộ cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, trở thành “lực lượng vật chất” thúc đẩy họ hăng hái hành động, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; nâng cao ý thức tự giác tu dưỡng đạo đức cách mạng, khắc phục chủ nghĩa cá nhân góp phần phòng, chống suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống và chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên.
Đội ngũ cán bộ cơ sở và vai trò, đặc điểm của đội ngũ cán bộ cơ sở Theo từ điển Tiếng Việt, cán bộ là người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ [39, tr. Theo quan điểm của Đảng ta thể hiện trong các văn kiện thì: Cán bộ bao gồm tất cả cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong các tổ chức của hệ thống chính trị, lực lượng vũ trang, các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công lập; những người được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý và những người làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ trong các tổ chức thuộc phạm vi công tác tổ chức và cán bộ của Đảng. Qua đó có thể hiểu rằng: Cán bộ là người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nhất định, làm việc trong các tổ chức, cơ quan của hệ thống chính trị, và là người giữ chức vụ trong các tổ chức, cơ quan của hệ thống chính trị [36, tr198-199]. 15 Đội ngũ cán bộ nói chung gồm hai bộ phận: bộ phận thứ nhất được đề bạt hoặc bổ nhiệm, bộ phận thứ hai gồm những cán bộ bầu cử.
Hiện nay, đội ngũ cán bộ gồm bốn loại chính: - Cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội. - Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy trong lực lượng vũ trang. - Cán bộ tham mưu, khoa học, chuyên gia trong các cơ quan tham mưu, các đơn vị sự nghiệp công lập. - Cán bộ quản lý sản xuất, kinh doanh trong các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nhà nước.
Theo Điều 4 Luật Cán bộ, công chức: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Huyện ủy lãnh đạo công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở Huyện ủy là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng bộ giữa hai nhiệm kỳ Đại hội, có nhiệm vụ lãnh đạo toàn diện các mặt công tác của Đảng bộ và hệ thống chính trị của huyện được quy định tại Điều lệ Đảng và Hiến pháp. 16 Huyện ủy lãnh đạo toàn bộ hoạt động của đảng bộ gồm: lãnh đạo công tác xây dựng đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức; lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị cấp cơ sở và các tổ chức kinh tế, xã hội; lãnh đạo các lĩnh vực đời sống xã hội trên địa bàn huyện trong đó có công tác GDLLCT cho cán bộ, đảng viên trên địa bàn huyện.