Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động xử lý nội dung tài liệu tại Thư viện Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam. Chương 2: Thực trạng công tác xử lý nội dung tài liệu tại Thư viện Học viện Y Dược học cô truyền Việt Nam. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng xử lý nội dung tài liệu tại Thư viện Học viện Y Dược học cô truyện Việt Nam. 12 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN XU LÝ NOI DUNG TAI LIEU VA GIOI THIEU THU VIEN HOC VIEN Y DUOC HOC CO TRUYEN VIET NAM 1.1 Những van đề lý luận về xử lý nội dung tai liệu 1.1 Khái niệm - Khái niệm xử lý tài liệu: Xử lý tài liệu chính là kỹ năng/ nghệ thuật nhằm ghi lại tat cả các đặc trưng về hình thức và nội dung (khối lượng thông tin/ tri thức/ kiến thức của nhân loại) trong tài liệu nhằm mục dich tìm kiếm được, kiểm soát được không chỉ về số lượng mà cả về nội dung của các thông tin ấy [3, tr.
Xử lý tài liệu là một công đoạn trong hoạt động dây chuyền thông tin tư liệu, bao gồm xử lý hình thức và xử lý nội dung tài liệu trong đó xử lý nội dung tài liệu là vấn đề rất quan trọng trong dây chuyền thông tin tư liệu. - Khái niệm xử lý nội dung tài liệu Xử lý nội dung tài liệu hay còn gọi là mô tả nội dung tài liệu là quá trình phân tích nội dung tài liệu và thể hiện nội dung đó bang các ngôn ngữ tư liệu (ký hiệu phân loại, định từ khóa, chủ dé, tóm tắt, chú giải, tong luận. - Mức độ xử lý nội dung tài liệu phụ thuộc vào nhu cầu thông tin của người dùng tin và khả năng đáp ứng của cơ quan thông tin thư viện và nhu cầu tin của NDT - Mục đích của xử lý nội dung tài liệu là nhằm xác định chính xác nội dung tài liệu đề: + Sắp xếp, tô chức lưu giữ tài liệu theo nội dung 13 + Xây dựng hệ thống tra cứu tìm tin theo nội dung chủ để, khía cạnh nghiên cứu của chủ đề. + Tổ chức triển lãm, giới thiệu tài liệu theo chủ dé.2 Các hoạt động xử lý nội dung tài liệu trong thư viện Xử lý nội dung tài liệu bao gồm các hoạt động: phân loại nội dung tài liệu; định chủ đề; định từ khóa; tóm tắt; chú giải; tổng luận nội dung tài liệu.
Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn và thực tế công tác xử lý nội dung tài liệu tại Thư viện Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam, tác giả chỉ nghiên cứu các công đoạn phân loại, tóm tắt và định từ khóa tài liệu.1 Phân loại nội dung tài liệu La quá trình phân tích tài liệu nhằm xác định nội dung chủ yếu và thé hiện nội dung đó bang những ký hiệu của khung phân loại cụ thé. Ký hiệu này có thé đơn giản hay phúc tạp tùy thuộc vào nội dung tài liệu dé cập [3, tr. Cho đến nay công việc phân loại tài liệu là công đoạn bắt buộc dé xây dựng và bắt đầu tổ chức, quản lý của một thư viện. Trên thế giới hiện nay có những cách phân loại tài liệu theo một số bảng phân loại phô biến như sau: - Bảng phân loại thập phân Dewey (Dewey Decimal Classification — DDC) Đây là bảng phân loại được sử dụng rộng rãi nhất ở Mỹ và các nước trên thế giới được nhà Thư viện học Melvil Dewey (1851 — 1931) sáng tạo.
Bảng này liên tục được chỉnh lý để theo kịp với sự phát triển của khoa học và đời sống. Bảng phân loại này được sử dụng trong hơn 135 đất nước, và được dịch ra hơn 30 ngôn ngữ. Cấu trúc của bảng phân loại DDC đầy đủ có một bảng chính và bảy bảng trợ ký hiệu. Bảng phân loại DDC là một bảng phân loại theo đăng cấp 10 môn loại chính (còn gọi là các lớp cơ bản).
Các lớp lại lần lượt được chia nhỏ 14 ra toi đa 10 lớp con, đến lượt minh mỗi lớp con lại chia ra 10 lớp nhỏ tiếp theo ở các bậc chỉ tiết hơn. - Bang phán loại thập phan bách khoa (Universal Decimal Classification — UDC): Bang phân loại UDC rút gon được ra đời vào năm 1897 bằng tiếp Pháp dựa trên cơ sở bảng DDC, bảng còn được goi là Bảng phân loại Brucxen mở rộng. Sự khác nhau giữa DDC và UDC thể hiện ở một số khía cạnh nội dung bên trong, còn lớp cơ bản vẫn giữ nguyên 10 lớp thể hiện bằng ký hiệu số từ 0 đến 9 nhưng bỏ các số 0 ở cuối. Bang UDC bao gồm một bảng chính và bảy bảng trợ ký hiệu và chủ đề.
Ở bảng chính UDC thể hiện ở các lớp cơ bản. Các ngành khoa học được chú ý mở rộng và bổ sung là các ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật. - Bang phân loại thư viện Quốc hội Mỹ (Library of Congerss Classificasion — LCC): Bảng phân loại LCC đầu tiên được do James (Trưởng phòng Mục luc thư viện Quốc hội Mỹ) và cộng sự Charles Martel bắt tay vào biên soạn. Bảng phân loại LCC hiện nay dựa trên nền tảng bảng phân loại Cutter, hay còn gọi là bảng phân loai triển khai (Expansive Classification).
Cau trúc của bảng LCC gồm 20 lớp cơ bản, trong mỗi lớp lại có một hệ thống cấu trúc riêng. Các lớp cơ bản của bảng phân loại LCC được thể hiện bằng các chữ cái từ A đến Z. Có năm chữ cái hiện còn đang bỏ trống dành cho các ngành khoa học sẽ phát triển trong tương lại: I, O, W, X, Y. Trong các lớp chính lại được phân chia nhỏ theo các nguyên tắc nhất định 15 1.2 Tóm tắt nội dung tài liệu Tóm tắt là trình bày một cách ngăn gọn, đầy đủ, chính xác nội dung của tài liệu gốc mà không kèm theo bất kỳ một lời bình luận nào từ phía người xử lý (Theo tiêu chuẩn Quốc tế ISO 214-1976) [3,tr.
Trong điều kiện “bùng nổ thông tin” như hiện nay, người dùng tin không thé thoả mãn khi chi được cung cấp những thông tin về chủ đề nội dung tài liệu. Họ muốn biết sâu hơn về tài liệu gốc. Vì thế bài tóm tắt là cơ sở đáng tin cậy dé họ quyết định có đọc hay mượn hoặc photo tài liệu đó không. Vì bài tom tắt thực hiện chức năng thông báo cho người dùng tin nội dung cơ bản đầy đủ của tài liệu gốc.3 Dinh từ khóa cho nội dung tài liệu Là quá trình phân tích nội dung tài liệu và mô tả nội dung tài liệu bằng một hoặc nhiều từ khoá — điểm tiếp cận tìm tin độc lập nhằm mục đích lưu giữ và tim tin theo phương pháp tự động hoá |3, tr67].
Có 2 phương pháp định từ khóa: - Phương pháp định Từ khóa tự do: là các đối tượng và phương diện, phương pháp nghiên cứu đã xác định, cán bộ định từ khóa tự lựa chọn và đưa ra từ khóa mà không có sự trợ giúp của các phương tiện kiêm soát từ vựng. - Phương pháp định Từ khóa kiểm soát:là trên cơ sở đối tượng, phương diện và phương pháp nghiên cứu đã xác định, cán bộ xử lý chọn từ khóa dựa vào sự trợ giúp của các phương tiện kiểm soát từ vựng như các phương tiện kiểm soát: bộ từ khóa chuyên ngành hoặc đa ngành, từ điển từ chuẩn chuyên ngành hoặc đa ngành, bảng đề mục chủ đề.4 Định chu dé cho nội dung tài liệu Là quá trình phân tích tài liệu nhằm xác định đề tài chủ yếu của thông tin/ tài liệu đó bằng các đề mục chủ đề theo một băng đề mục chủ đề nhất định. Các đề mục chủ đề thường được sắp xếp theo thứ tự vần chữ cái đầy đề mục chủ đề [3, tr. Nếu từ khóa chỉ biểu đạt một phần hoặc một mặt nào đó của nội dung tài liệu, còn đề mục chủ đề phản ánh bao quát chủ đề chính và các góc độ nghiên cứu được đề cập trong nội dung tài liệu, đề mục chủ đề còn có khả năng biéu đạt đầy đủ và ngắn gọn nội dung tài liệu.
Kết quả của quá trình xử lý tài liệu cho phéo NDT nắm được thông tin về mọi mặt của tài liệu: nội dung, công dụng, hình thức dé tiễn hành lựa chọn chúng hợp với yêu cầu của mình. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong công tác biên mục đòi hỏi các kết quả của quá trình xử lý tài liệu phải được trình bày chặt chẽ theo tiêu chuẩn của khổ mẫu biên mục có thể đọc được băng máy, đảm bảo tính tương hợp giữa các yếu tô thư mục của biểu ghi, đảm bảo các tiêu chuẩn về trình bày dữ liệu đầu ra và các tiêu chuẩn trao đổi dữ liệu. Khổ mẫu có thé coi như cấu trúc của biểu ghi đọc máy, là hình thức sắp xếp, trình bày các dữ liệu trên một vật mang tin sao cho máy có thể đọc được.5 Chú giải nội dung tài liệu Là quá trình xử lý nội dung tài liệu để lựa chọn những thông tin ngắn gọn, chính xác về đặc tính và nội dung cho thông tin/tài liệu gốc đó nhằm giúp thông báo và trợ giúp người dùng tin nhanh chóng chọn lọc thông tin/tai liệu cần thiết mà không cần đến tài liệu gốc và không bị cản trở bởi hàng rào ngôn ngữ [3, tr.6 Tổng luận nội dung tài liệu Đây là một trong những công đoạn xử lý nội dung của một nhóm các loại hình tài liệu/thông tin khoa học khác nhau nhưng có chung một nội dung, chủ đề dé phân tích, xem xét và tập hợp một cách logic các dữ liệu được phản ánh trong tài liệu gốc đặt trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhằm trình bày cô đọng, có hệ thống các thông tin và tổng hợp chặt chẽ về các vấn đề cần tổng luận trên cơ sở phân tích thực trạng, mức độ và xu hướng phát trién của chúng [3, tr.3 Các yếu tổ ảnh hưởng đến công tác xử lý nội dung tài liệu 1.1 Tổ chức công việc Công tác xử lý nội dung tài liệu cũng giống như bất kỳ một hoạt động nào, muốn đảm bảo đúng tiến độ và chất lượng xử lý đạt hiệu quả cao thì cần phải xây dựng quy trình xử lý tài liệu cụ thể, có sự phân công công việc hợp lý, khoa học gan trách nhiệm với từng cán bộ. Tổ chức công việc theo hướng chuyên môn hóa để phát huy tối đa khả năng, kinh nghiệm của cán bộ thư viện.
Mỗi cán bộ nên phụ trách một công đoạn nhất định, không nên chồng chéo công việc: ví dụ như một cán bộ chuyên phân loại, một cán bộ chuyên làm tóm tắt.thay vì phải thực hiện tất cả các công đoạn đó.