Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm thủ tục tranh tụng tại phiên tòa Giải quyết vụ án hình sự là một quá trình phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn tố tụng khác nhau với sự tham gia của nhiều chủ thể vào quan hệ pháp luật TTHS. Để bảo đảm giải quyết vụ án hình sự được kịp thời, đúng đắn và toàn diện, nhà lập pháp đã thiết lập những cách thức, trình tự thực hiện hoạt động TTHS rất chặt chẽ, khoa học và có tính bắt buộc đối với các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật TTHS. Hoạt động TTHS được thể hiện dưới dạng hành vi và quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền.
Cách thức và trình tự thực hiện các hành vi, hoạt động tố tụng đó được gọi là thủ tục TTHS với các hiểu là trình tự và cách thức thực hiện các hành vi và hoạt động TTHS trong quá trình giải quyết vụ án hình sự (được pháp luật TTHS xác định), đòi hỏi các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS phải tuân thủ. Xét xử được coi là thủ tục trung tâm của quá trình tố tụng giải quyết vụ án và tranh tụng tại phiên tòa là yếu tố quan trọng bảo đảm bình đẳng, dân chủ trong việc xác định sự thật khách quan vụ án. Lần đầu tiên nguyên tắc “tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” được quy định trong BLTTHS năm 2015 với những nội hàm khá rộng, đa dạng nhưng với phạm vi của Luận văn này, học viên chỉ tập trung nghiên cứu thủ tục tranh tụng tại phiên tòa với các nội hàm sau: 1. Thế nào là tranh tụng Theo Từ điển Tiếng Việt năm 1998 do GS.
Hoàng Phê chủ biên thì "tranh tụng" có nghĩa là kiện tụng. Trong tiếng Anh "tranh tụng" là "Adversarial" nghĩa là đối kháng, đương đầu. Theo Từ điển Luật học do Viện khoa học pháp lý xuất bản năm 2006, "tranh tụng" có nghĩa là các hoạt động tố tụng được thực 8 hiện bởi các bên tham gia tố tụng (bên buộc tội và bên bị buộc tội) có quyền bình đẳng với nhau trong việc thu thập, đưa ra chứng cứ để bảo vệ các quan điểm lợi ích của mình, phản bác lại các quan điểm, lợi ích của phía đối lập. Tranh tụng tại phiên tòa là những hoạt động tố tụng được tiến hành tại phiên tòa xét xử bởi hai bên tham gia tố tụng, nhằm bảo vệ ý kiến, luận điểm của mỗi bên và bác bỏ ý kiến, luận điểm của phía bên kia, dưới sự điều khiển, quyết định của Tòa án với vai trò trung gian, trọng tài [42, tr.
Cho đến nay, tranh tụng trong TTHS không còn là vấn đề mới. Song đây vẫn là vấn đề gây nhiều tranh cãi với nhiều cách hiểu và lý giải khác nhau. Trong đó, đa phần để làm sáng tỏ khái niệm nay, các nhà nghiên cứu thường đề cập đến các vấn đề về mô hình tố tụng tranh tụng, nguyên tắc tranh tụng, hoạt động tranh tụng… tức là giải thích tranh tụng dưới các góc độ khác nhau. Học viên xin đưa ra một số góc nhìn điển hình về tranh tụng trong TTHS: Đối với quan điểm cho rằng tranh tụng là một mô hình tố tụng hình sự.
Đây là mô hình (kiểu, hệ) tố tụng của các nước theo hệ thống luật án lệ. Mô hình tố tụng tranh tụng dựa trên quan điểm sự thật sẽ được xác lập thông qua sự tranh luận tự do và cởi mở giữa những người có dữ kiện chính xác về vụ án [41, tr. Mô hình tố tụng tranh tụng có hai đặc điểm: Một là, các bên tranh tụng ra trước Tòa án với tư cách là hai đối thủ, trong suốt quá trình tranh tụng bên buộc tội (bao gồm các chủ thể công tố, tư tố, bị hại, người làm chứng có lời khai có tính chất buộc tội…) và bên gỡ tội (bao gồm người bị buộc tội, người bào chữa, người làm chứng có lời khai có tính chất gỡ tội…) liên tục trao đổi với nhau những lập luận, chứng cứ. Các bên buộc tội, gỡ tội bình đẳng trong việc thu thập chứng cứ, chứng minh và có quyền ngang nhau trong việc đưa ra lý lẽ, lập luận về các vấn đề liên quan đến vụ án.
Hai là, Thẩm phán chỉ đóng vai trò một người trọng tài, không có trách nhiệm phải 9 tìm chứng cứ. Trong mô hình tố tụng tranh tụng không có giai đoạn điều tra, các chứng cứ chỉ được đem ra tranh luận tại phiên tòa xét xử. Để đưa ra phán quyết, Thẩm phán chỉ dựa trên chứng cứ đưa ra tại phiên tòa và không có quyền biết đến các chứng cứ đó trước khi phiên tòa diễn ra. Các bên phải kiểm tra, xác minh chéo chứng cứ và nhân chứng của bên đối lập, từ đó tìm ra kẽ hở của nhau.
Đối với quan điểm cho rằng tranh tụng là một nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự. Nếu nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự là phương châm, định hướng chi phối toàn bộ hay một số giai đoạn tố tụng trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật nhằm giải quyết vụ án khách quan, công bằng, bảo đảm tôn trọng quyền con người hướng tới mục tiêu của tố tụng hình sự thì tranh tụng được coi là nguyên tắc tiêu biểu của mô hình tố tụng tranh tụng bên cạnh các nguyên tắc khác như nguyên tắc quyền im lặng của người bị buộc tội, nguyên tắc suy đoán vô tội… Trong khi đó, các nguyên tắc của mô hình thẩm vấn có đặc trưng là kiểm soát và đấu tranh chống tội phạm như: trách nhiệm chứng minh tội phạm của các cơ quan công quyền, bắt buộc khởi tố và xử lý vụ án hình sự… [8, tr. Tranh tụng còn được nhìn nhận trên phương diện là một hoạt động tố tụng hình sự. Hoạt động tố tụng hình sự là việc các chủ thể thuộc quan hệ pháp luật tố tụng hình sự thực hiện những công việc được pháp luật tố tụng hình sự cho phép nhằm mục đích hoặc thự chiện một chức năng nhất định nào đó.
Hoạt động tranh tụng được thực hiện bởi bên buộc tội và bên gỡ tội và được thực hiện chủ yếu tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự. Ở đó, bên buộc tội nhận danh quyền lực của Nhà nước, của bị hại để đưa ra quan điểm, lập luận về việc buộc tội bị cáo. Bên gỡ tội, đại diện là luật sư bào chữa đưa ra các quan điểm phủ định ý kiến của bên buộc tội để bảo vệ quyền và lợi ích của bị cáo. Các chủ thể xuất phát từ những địa vị pháp lý khác nhau nhưng bình 10 đẳng về quyền và nghĩa vụ.
Tất cả các hoạt động tranh tụng tại phiên tòa được bảo đảm thực hiện bởi sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa mà mục đích chính của các hoạt động này là nhằm sáng tỏ sự thật của vụ án do kết quả của việc đối tụng mang đến. Thời điểm bắt đầu thủ tục tranh tụng tại phiên tòa Trong khoa học pháp lý hiện nay vẫn tồn tại những quan điểm khác nhau về thời điểm bắt đầu thủ tục tranh tụng, cụ thể: Có ý kiến cho rằng, tranh tụng tại phiên tòa được hiểu là tranh luận tại phiên tòa. Do đó, nâng cao tính tranh tụng trong quá trình xét xử tức là nâng cao hơn nữa hoạt động tranh luận tại phiên tòa [14, tr. Theo quan điểm này thì tranh tụng được đồng nhất với tranh luận và vì vậy chỉ bắt đầu khi tranh luận tại phiên tòa.
Quan điểm thứ hai cho rằng quá trình tranh tụng tại phiên tòa được bắt đầu từ thời điểm Kiểm sát viên đọc cáo trạng và kết thúc sau khi tuyên án, tức là bao gồm phần xét hỏi, tranh luận, nghị án và tuyên án. Quan điểm thứ ba cho rằng tranh tụng tại phiên tòa gắn liền với phiên tòa và không chỉ bao gồm phần tranh luận mà được thực hiện trong suốt quá trình xét xử, cuộc tranh tụng chỉ thực sự kết thúc khi Tòa tuyên án. Điều đó có nghĩa tranh tụng tại phiên tòa được bắt đầu từ thời điểm khai mạc phiên tòa và bao gồm cả phần thủ tục phiên tòa, phần xét hỏi, tranh luận, nghị án và tuyên án. Học viên cho rằng quan điểm thứ nhất là quá thu hẹp phạm vi tranh tụng.
Nếu tranh tụng chỉ giới hạn trong tranh luận thì không đạt được những mục đích tranh tụng đặt ra. Để thực sự tham gia vào quá trình chứng minh, các bên tham gia tranh tụng phải được phép đưa ra chứng cứ, thực hiện việc xét hỏi, xem xét vật chứng để đảm bảo tính đầy đủ toàn diện; chứng cứ phải được thu thập, kiểm tra, đánh giá từ góc độ, cách nhìn nhận khác nhau của 11 bên buộc tội và bên gỡ tội. Hơn nữa, theo TTHS của nhiều nước, nhất là các nước theo truyền thống án lệ, phiên tòa không được phân chia rõ rệt thành phần xét hỏi, phần tranh luận thì quan điểm cho rằng tranh tụng chỉ xảy ra trong phần tranh luận là không chính xác. Mặt khác, để có căn cứ tranh luận về vụ án, các chủ thể tham gia tranh tụng phải kiểm tra, xác minh các tài liệu, chứng cứ về vụ án để từ đó lựa chọn được những chứng cứ hợp pháp, có giá trị chứng minh làm căn cứ cho các lập luận của mình khi đề xuất với HĐXX về hướng giải quyết các vấn đề của vụ án.
Vì vậy, tranh luận chỉ là một thủ tục, một phần độc lập của phiên tòa, trong đó thể hiện tập trung và rõ nét nhất nội dung tranh tụng. Tranh luận có nội hàm hẹp hơn tranh tụng và chỉ là một bộ phận cấu thành của thủ tục tranh tụng. Theo quan điểm thứ hai thì phạm vi tranh tụng được mở rộng hơn bao gồm phần xét hỏi, tranh luận, nghị án và tuyên án. Học viên cho rằng cách hiểu phạm vi tranh tụng này có thể chấp nhận được, tuy nhiên chưa đầy đủ vì trong thực tiễn xét xử, phần thủ tục phiên tòa được coi là giai đoạn chuẩn bị của quá trình tranh tụng [20, tr.
Quan điểm thứ ba cho rằng thủ tục tranh tụng tại phiên tòa bao gồm: phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, xét hỏi, tranh luận, nghị án và tuyên án theo học viên là hợp lý. Bởi vì, mục đích của tranh tụng là quá trình xác định sự thật khách quan của vụ án. Tranh tụng chỉ có thể tiến hành tại phiên tòa nên quá trình này bị giới hạn bởi chính phiên tòa.