Chương 1: LÝ LUẬN CƠ BAN VE NGUYÊN TAC BAO DAM PHAP CHE XA HOI CHU NGHIA TRONG TO TUNG HINH SU 1. Khái niệm và ý nghĩa của nguyên tắc bao đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự 1. Khái niệm nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ tụng hình sự trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khăng định: “Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nhà nước pháp quyên xã hội chủ nghĩa cua Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. ”Í Nói cách khác, thượng tôn pháp luật hay pháp chế được coi là phương hướng hoạt động chủ đạo trong việc quản lý và vận hành Nhà nước, trở thành các nguyên tắc điều chỉnh xử sự của các chủ thể trong mọi quan hệ xã hội, bao gồm cả tố tụng hình sự.
Nguyên tắc nói chung và nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa nói riêng trong TTHS là cơ sở để đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ mà Nhà nước giao: bao đảm phát hiện chính xác và xứ lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn toi phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; góp phan bảo vệ công lý, bảo vệ quyển con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyên và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giáo duc mọi người ý thức tuân theo pháp luật, dau tranh phòng ngừa và chống tội phạm.” Khi tiến hành các hoạt động TTHS, các chủ thé trong quan hệ TTHS phải thực hiện hành vi của mình theo đúng quy định của pháp luật TTHS, việc tuân ! Điều 2, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội, 2013. „ ? Điều 2, Quôc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ luật Tô tụng hình sự, Hà Nội, 2015. thủ đúng, đầy đủ và nghiêm chỉnh pháp luật chính là thực hiện pháp chế xã hội chủ nghĩa trong TTHS được bao đảm. Vi vậy, dé hiểu một cách đầy đủ khái niệm nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong TTHS cần phải làm rõ hai van đề “nguyên tắc” và “pháp chế xã hội chủ nghĩa”.
Về “nguyên tắc”, thuật ngữ này bắt nguồn từ tiếng Latinh là “Principium” có bao nghĩa sau đây: 1) Luận điểm cơ bản, luận điểm gốc của học thuyết nào đó; tư tưởng chỉ đạo của quy tắc hoạt động: 2) Niềm tin, quan điểm đối với sự vật và chính quan điểm, niềm tin đó xác định quy tắc hành vi; 3) Nguyên lý cấu trúc và hoạt động của bộ máy dụng cụ thiết bị nào đó. Hay còn được hiểu là “cái gì đó mang tính xuất phát điểm, dẫn đầu, chủ đạo””. Còn theo Từ điểm Tiếng Việt, nguyên tắc được hiểu là “Diéu cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm “ Tại Việt Nam, xét trong quan hệ pháp luật, nguyên tắc pháp luật được hiểu là những tư tưởng chỉ đạo nội dung, quá trình xây dựng, thực hiện và bảo vệ pháp luật. Các nguyên tắc của pháp luật làm thành bộ khung “xương sống” dé nâng đỡ toàn bộ hệ thống pháp luật, làm cho các quy định pháp luật luôn có sự gan kết chặt chẽ và thông nhất nội tại với nhau.
Những nguyên tắc của pháp luật được thể hiện trong nội dung đường lối chính sách của Đảng Cộng sản, nội dung, tinh thần các chính sách pháp luật, các quy định, văn bản pháp luật, trong đó tập trung nhất là trong Hiến pháp và các văn bản luật quan trọng của nhà nước. Khi vận dụng vào pháp luật TTHS, có thể hiểu: Nguyên tắc của pháp luật TTHS là tư tưởng, chủ đạo xuyên suốt của pháp luật tố tụng hình sự được thê hiện thông qua các quy phạm pháp luật TTHS hoặc các chế định riêng biệt 3 XX. Aléchxayép, Pháp luật trong cuộc sống của chúng ta (người dich: Đồng Anh Quang, người hiệu đính: Nguyên Đình Lộc), Nxb Pháp lý, Hà Nội, 1986, tr. ; 4 Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Từ điên Luật, Nxb Tu pháp và Nxb Từ điên Bach khoa, Ha Nội, 2009, tr.
562 của pháp luật TTHS, là định hướng cho việc xây dựng, giải thích và áp dụng pháp luật TTHS. về “pháp chế xã hội chủ nghĩa”, pháp chế là một khái điểm đa nghĩa, được thê hiển ở những điểm cơ bản: Sự hiện diện của hệ thống pháp luật hoàn thiện; Bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật; Các tô chức phi Nhà nước được thành lập và hoạt động hợp pháp; Mọi công dân và các cá nhân luôn xử sự hợp pháp. Từ những phân tích trên cho thấy, nói đến pháp chế là nói đến pháp luật và sự đòi hỏi phải tôn trọng và thực hiện pháp luật chính xác, nghiêm minh của toàn bộ chủ thé trong xã hội. Nghiêm chỉnh thực hiện các yêu cầu của pháp chế sẽ tạo cho đời sống xã hội có trật tự, kỷ cương cần thiết, bảo đảm cho hoạt động của toàn bộ xã hội thống nhất, đồng bộ nhịp nhàng theo quy định của pháp luật dé xã hội tồn tại và phát triển vì hạnh phúc của nhân dân.
Như vậy, pháp chế là sự hiện điện của một hệ thống pháp luật hoàn thiện và sự tôn trọng, thực hiện pháp luật hiện hành một cách chính xác, thường xuyên, thống nhất bởi Nhà nước và xã hội. Nói cách khác, pháp chế được hiéu là sự tuân thủ triệt dé pháp luật của các cơ quan, tô chức và cá nhân. Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, pháp chế và việc bảo đảm thực hiện nó được coi là những yếu tố đặc trưng nhất khi đề cập đến van dé này. Các văn bản quy phạm pháp luật được Nhà nước pháp quyên xã hội chủ nghĩa ban hành là cơ sở đảm bảo cho sự tuân thủ pháp chế, nhưng các văn bản quy phạm pháp luật cũng không mất đi giá trị khi không có cơ chế đảm bảo tuân thủ của pháp luật.
Vì vậy, pháp chế được coi là một nhân tố quan trọng nhất trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật xã hội chủ nghĩa. Nói cách khác, việc tuân thủ triệt để pháp luật của các chủ thể vừa tác động đến hoạt động áp dụng pháp luật trong xã hội, vừa là yếu tố không thê thiếu trong việc xây dựng pháp luật xã hội chủ nghĩa. 10 Dựa vào những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lê Nin, các nhà khoa học pháp lý ở Liên Xô trước đây đã xây dựng khái niệm mới về “pháp chế cách mang” — pháp chế xã hội chủ nghĩa. Trong đó, cơ sở quan trọng nhất dé thiết lập nên nền pháp chế trong xã hội chủ nghĩa làm một hệ thống pháp luật tiên tiến và điều kiện dé pháp đi vào cuộc sống là Nhà nước xã hội chi nghĩa và ý thức tự giác của đông đảo quần chúng nhân dân.
Pháp chế xã hội chủ nghĩa là sự đòi hỏi tuân thủ và chấp hành pháp luật đối với các cơ quan Nhà nước, những cá nhân đang làm việc trong các cơ quan này và các cá nhân hoạt động trong các tô chức chính trị - xã hội và mọi công dân. Cũng từ học thuyết Mác — Lénin, có thé nhận ra đặc điểm quan trọng va dễ thấy nhất của pháp luật là tính quy phạm phổ biến, được hiểu, pháp luật mang tính bắt buộc cho toan xã hội mà nó điều chỉnh, điều này được Nha nước ban hành ra chúng thừa nhận và đảm bảo áp dụng băng các biện pháp cưỡng chế Nha nước. Mọi chủ thé đều phải xử sự phù hop với quy định ma Nhà nước đã ban hành. Trong đó, ngay chính chủ thể ban hành ra pháp luật là Nhà nước cũng tự đặt mình vào mối quan hệ ràng buộc này, và phải là chủ thé nghiêm chỉnh thực hiện hiện pháp luật.
Bởi lẽ, trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước và pháp luật mang tính nhân dân sâu sắc, phục tùng pháp luật là phục tùng ý chí và lợi ích của nhân dân, đường lối, chính sách của Đảng. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không cho phép bất kỳ chủ thé nào xử sự ngoài phạm vi của pháp luât. Tất cả mọi chủ thé bao gồm cả Đảng và Nhà nước đều bình đăng, đều bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật khi có hành vi vi phạm pháp luật. Qua đó, có thể hiểu rằng: Pháp chế xã hội chủ nghĩa là một chế độ đặc biệt, trong đó tất cả các chủ thể bao gồm từ các cơ quan nhà nước đến công dân đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt dé và chính xác trong đời song chính tri - xã hội chủ nghĩa.
11 Những nội dung về pháp chế xã hội chủ nghĩa trong các học thuyết Mác — Lênin được coi là sự kế thừa và phát triển các tư tưởng tiễn bộ, văn minh nhất của lịch sử nhân loại. Do đó, khi xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, bản thân Nhà nước không thé tách rời khỏi kho tang lý luận và giá trị của chủ nghĩa Mác — Lênin về pháp chế xã hội chủ nghĩa, phải đề cao pháp luật, mà trước hết là Hiến pháp, bên cạnh đó phải đề cao những giá trị cao cả của xã hội về quyền con người, quyền công dân và chú trọng đến hoạt động của các tô chức trong bộ máy Nhà nước. Khi xem xét với nội hàm của một nguyên tắc trong quan hệ pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa luôn giữ vai trò chỉ đạo, định hướng cho toàn bộ hoạt động liên quan đến pháp luật, ảnh hưởng mạnh mẽ đến ý thức và trật tự pháp luật của xã hội. Khi tiếp cận với góc độ một ngành luật cụ thể, nguyên tắc pháp chế xã hội có những nội dung, yêu cầu nhất định dựa trên đặc trung của ngành luật đó.
Để thực hiện được nhiệm vụ của pháp luật TTHS, BLTTHS đặt ra những quy định cụ thé về trình tự, thủ tục tố tụng từ khi tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Dé các giai đoạn và hoạt động của các chủ thể được giao nhiệm vụ thực hiện một cách thông nhất, pháp luật TTHS đặt ra những nguyên tắc cơ bản nhất định.