Chương 1: MOT SO VAN ĐÈ LÝ LUẬN VE BIEN PHÁP NGAN CHAN DAT TIEN DE BAO DAM TRONG TO TUNG HINH SU VIET NAM 1. Khái quát chung về đặt tiền dé bảo dam Việc đặt một số tiền nhất định để người bị cáo buộc phạm tội mà pháp luật hình sự coi là tội phạm được tại ngoại trong thời gian giải quyết vụ án hình sự đã xuất hiện và được ghi nhận phổ biến, rộng rãi trong pháp luật tố tụng hình sự (TTHS) ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là trong pháp luật của các quốc gia phương Tây. Tùy theo pháp luật của mỗi quốc gia, trình độ phát triển kinh tế - xã hội và đặc điểm pháp lý ở những giai đoạn lịch sử của đất nước mà mỗi quốc gia có sự khác nhau về tên gọi, đặc điểm và thủ tục áp dụng áp dụng biện pháp này. Tại các quốc gia phương Tây, phương pháp bảo đảm cho người bị buộc tội có mặt tại phiên tòa xét xử họ đã xuất hiện đầu tiên tại Anh ở thời Trung cô.
Vào thé ki thứ XIII, các thâm phan Hoàng gia đặt tại thủ phủ Westminster của Anh quốc phải đi khắp đất nước dé tiến hành xét xử lưu động ở các địa phương trên toàn Anh quốc. Những chuyến đi của họ đã dẫn đến trì hoãn việc xét xử, một nghỉ phạm sẽ phải chờ đợi nhiều tháng trước khi một thâm phán quay lại địa phương của họ dé xét xử. Trong thời gian trì hoãn này, nghỉ phạm sẽ nộp tài sản hoặc đất đai của mình cho tòa án như một lời cam kết rằng họ sẽ có mặt trước tòa vào phiên xét xử họ. Pháp luật của Anh nói chung và chế định đặt tài sản để có mặt tại phiên tòa xét xử của người bị buộc tội đã có tầm ảnh hưởng to lớn và sâu rộng đến pháp luật của các vùng thuộc địa của Anh tại thời ky đó.
Sau khi giảnh được độc lập, các quốc gia từng là thuộc địa của Anh đã khởi xướng pháp luật về bảo lãnh của riêng mình nhưng luôn có sự ảnh hưởng từ pháp luật của Anh. Điển hình là tại Hop chủng quốc Hoa Kỳ, sau khi chấm dứt thời kỳ thuộc địa, Hoa Kỳ không còn dựa vào pháp luật của Anh nữa, các luật về bảo lãnh riêng được ban hành nhưng vẫn dựa trên cơ cấu bảo lãnh đã phát triển ở Anh hàng trăm năm trước đó, luật về bảo lãnh đầu tiên được ban hành ở bang Virginia vào năm 1776 với nội dung duy trì hệ thống bảo lãnh tại ngoại như pháp luật ở Anh [58]. Tại Việt Nam, lần đầu tiên các biện pháp ngăn chặn (BPNC) được quy định một cách day đủ và có hệ thống tại Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 1988. Biện pháp đặt tiền để bảo đảm lúc đó được quy định tại Điều 76 với tên gọi “Dat tiền hoặc tài sản để bảo dam” được áp dụng đôi với bị can hoặc bị cáo là người nước ngoài.
Sự hiện diện lần đầu tiên của biện pháp này trong BLTTHS thể hiện sự quan tâm đối với nội dung bảo vệ quyền con người trong tư pháp hình sự và sự cố gắng trong việc hội nhập, đảm bảo tương thích với pháp luật quốc tế của Đảng và Nhà nước ta. Tuy nhiên, do tình hình kinh tế xã hội của nước ta lúc đó còn chưa phù hợp dé áp dung, đồng thời, đối tượng được áp dung còn hạn chế, chưa có những văn bản cụ thê để hướng dẫn thi hành, thiếu sự chỉ đạo thống nhất nên trong thực tiễn, BPNC này đã không được áp dụng [16, tr. Đến BLTTHS năm 2003, tại Điều 93 BLTTHS năm 2003 đã ghi nhận, sửa đổi và bé sung thành biện pháp “Đặt tién hoặc tài sản có giá trị dé bảo dam”. Quy định về BPNC “Dat tién hoặc tài sản có giá trị dé bảo dam” có văn bản hướng dan ap dụng kém theo được ban hành vào năm 2013, đó là Thông tư liên tịch sỐ 17/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKNDTC-TANDTC ngày 14 thang 11 năm 2013 của Bộ Tu pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc đặt tiền để bảo đảm của BLTTHS năm 2003 (sau đây gọi là Thông tư liên tịch số 17/2013).
Nếu như trước đây BLTTHS năm 1988 quy định đối tượng áp dụng biện pháp này chi là bị can, bị cáo là người nước ngoài thì BLTTHS năm 2003 đã mở rộng đối tượng áp dụng đối với tất cả bị can, bị cáo mà không có sự phân biệt người nước ngoài hay người Việt Nam, đồng thời mở rộng chủ thé có thâm quyền áp dụng là thâm phan chủ tọa phiên tòa, quy định rõ tài sản đặt để bảo đảm phải là tài sản có giá trị. Điều nay thể hiện sự thay đổi lớn trong quan điểm của Dang va Nhà nước trong việc mở rộng dân chủ và đảm bảo sự công băng xã hội. Mặc dù vậy, thực tiễn áp dụng cho thấy quy định về đặt tài sản có giá trị để bảo đảm không có tính khả thi do thủ tục đặt tài sản rất phức tạp, mức đặt tiền bảo lãnh chưa được quy định cụ thể, có Cơ quan điêu tra yêu câu mức đặt tiên bảo lãnh băng với mức độ thiệt hại của vụ án nên gần như không phát huy được mặt tiễn bộ của Điều luật [1, tr. Hiện nay, tại BLTTHS năm 2015 sửa đổi, bố sung năm 2021 (sau đây gọi là BLTTHS năm 2015) thì BPNC này được sửa đổi là biện pháp “Dat điển dé bao dam”, loại bỏ phương thức đặt “tài sản có giá trị” dé bảo đảm, dựa trên tổng kết thực tiễn áp dụng của các cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) va khắc phục những khó khăn, vướng mắc đã chỉ ra.
Việc loại bỏ quy định cho phép bị can, bị cáo đặt tài sản có giá tri dé bảo dam của BLTTHS năm 2015 là một thay đôi lớn, nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các CQTHTT trong việc áp dụng BPNC đặt tiền dé bảo đảm, cụ thé là những tồn tại, khó khăn trong việc xác định sỐ lượng lưu giữ, việc trả lại tiền cho người đã đặt hoặc chuyên thành nguồn thu của Nhà nước. Ngoài ra, còn nhiều nội dung khác trong quy định về biện pháp đặt tiền để bảo đảm được sửa đổi, bổ sung trong BLTTHS năm 2015 nhằm phù hợp với thực tiễn. Việc sửa đối, bố sung quy định của pháp luật về BPNC đặt tiền để bảo đảm trong BLTTHS năm 2015 phản ánh rõ nét mong muốn của Đảng và Nhà nước trong việc nâng cao hiệu quả và đây mạnh việc thực thi BPNC này. Khái niệm biện pháp ngăn chặn đặt tiền để bảo đảm Đề thực hiện nhiệm vụ chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kip thời mọi hành vi phạm tội, không dé lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, BLTTHS cho phép CQTHTT áp dụng nhiều biện pháp, trong đó có các BPNC trong TTHS.
Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế TTHS được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự, do người có thâm quyền tiến hành tố tụng, công dân áp dụng đối với bị can, bị cáo, người phạm tội quả tang, người có lệnh truy nã hoặc người bị nghi là phạm tội, nhằm ngăn chặn kip thời hành vi phạm tội, không để họ cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội cũng như nhằm đảm bảo cho việc thi hành án [20, tr. Hiện nay, pháp luật TTHS Việt Nam quy định nhóm các BPNC tại Chương VII BLTTHS năm 2015 gồm có: Bắt người trong trường hợp khẩn cấp; bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã; bắt bị can, bị cáo dé tạm giam; gIữ người 10 trong trường hợp khẩn cấp; tạm giữ; tạm giam; cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền dé bảo đảm và tạm hoãn xuất cảnh. Các BPNC là cơ sở pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, đồng thời, là biện pháp hạn chế một số quyền và tự do cá nhân nên chúng được quan tâm không những từ phía các nhà lập pháp ma cả những nhà nghiên cứu khoa học luật TTHS. Tại Điều 20 Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: 1.
Mọi người có quyền bat khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tan, bao lực, truy bức, nhục hình hay bat ky hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm. Không ai bị bắt nêu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định. Sự ghi nhận nội dung này trong Hiến pháp là nhằm đảm bảo rằng bất kỳ công dân nào đều không bị Nhà nước áp dụng các biện pháp cưỡng chế một cách tùy tiện và không có căn cứ.
Khi áp dụng BPNC, trong những trường hợp cụ thé, nếu xét thay không cần thiết phải áp dụng các BPNC nghiêm khắc thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải thay đổi ngay BPNC khác có tính ít nghiêm khắc hon, dé vừa bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm vừa gan với việc bao vệ và bảo đảm quyên con người, quyền tự do, dân chủ của công dân. BLTTHS năm 2015 quy định BPNC đặt tiền để bảo đảm là một trong những biện pháp ít nghiêm khắc, được các CQTHTT áp dụng dé thay thế biện pháp tạm giam khi xét thấy không cần thiết phải tạm giam nhưng vẫn cần thiết phải ngăn chặn, phòng ngừa bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội. Phần lớn các quốc gia trên thế giới sử dụng thuật ngữ “bail” trong lĩnh vực hình sự để chỉ biện pháp này. Cần phân biệt việc sử dụng thuật ngữ này trong những lĩnh vực pháp luật nhất định, bởi vì thuật ngữ “bail” còn được sử dụng trong cả lĩnh vực dân sự, phát sinh trong quan hệ pháp luật dân sự.
Theo đó, thuật ngữ “bail” chỉ một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ đôi với bên có 11 quyền, trong đó bên thứ ba (bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh) nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ ma bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.