phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở luận chất lƣợng tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng tín dụng khách hàng cá nhân tại Agribank chi nhánh huyện Kim Động Hƣng Yên. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng khách hàng cá nhân tại Agribank chi nhánh huyện Kim Động Hƣng Yên.
7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LUẬN CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN 1. Khái niệm “Danh từ Tín dụn xuất phát từ gốc La tinh Creditum có nghĩa là một sự tin tƣởng tín nhiệm lẫn nhau, hay nói cách khác đó là lòng tin. Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam thì tín dụng là quan hệ vay mƣợn lẫn nhau trên cơ sở có hoàn trả cả gốc và lãi.
Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau nhƣng đều thể hiện hai nội dung chủ yếu: Thứ nhất: ngƣời sở hữ một số tiền hoặc hàng hóa chuyển giao cho ngƣời khác sử dụng trong một khoản thời gian nhất định. Thứ hai: ngƣời sử dụng cam kết hoàn trả số tiền hoặc hàng hóa đó cho ngƣời sở hữu với một giá trị lớn hơn, phần chênh lệch lớn hơn đó gọi là lợi tức hay tiền lãi. Theo Mác, tín dụng là sự chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay về với một lƣợng giá trị lớn hơn lƣợng giá trị ban đầu. Theo quan điểm này phạm trù tín dụng có 3 nội dung chủ yếu đó là: tín chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị, tính thời hạn và tính hoàn trả.
Nhƣ vậy, tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa ngƣời cho vay và ngƣời đi vay thông qua sự vận động của giá trị, vốn tín dụng đƣợc biểu hiện dƣới hình thức tiền tệ hoặc hàng hóa.” [13] - Cấp t n dụn : là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. - T n dụn N n ng: “Vốn tín dụng đƣợc biểu hiện dƣới hình thái tiền tệ hoặc hàng hóa. Quá trình vận động của vốn tín dụng có thể đƣợc khái quát qua ba giai đoạn sau: • Thứ nhất: Phân phối vốn tín dụng dƣới hình thức cho vay. Ở giai đoạn này, vốn tiền tệ hoặc giá trị vật tƣ hàng hóa đƣợc chuyển sang ngƣời đi vay, ở đây chỉ có một bên nhận đƣợc giá trị và cũng chỉ một bên nhƣợng đi giá trị.
• Thứ hai: Sử dụng vốn tín dụng trong quá trình tái sản xuất. Ngƣời đi vay sau khi nhận đƣợc giá trị vốn tín dụng, họ đƣợc quyền sử dụng giá trị đó để thỏa mã nhu cầu sản xuất hoặc tiêu dùng của mình. Tuy nhiên , ngƣời đi vay chỉ đƣợc quyền sử dụng trong một khoản thời gian nhất định mà không đƣợc quyền sở hữu về giá trị đó. • Thứ ba: đây là giai đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng.
Sau khi vốn tín dụng đã hoàn thành một chu kỳ sản xuất để trở về hình thái tiền tệ thì vốn tín dụng đƣợc ngƣời đi vay hoàn trả lại cho ngƣời cho vay”. [14] “Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy ngƣời cho vay khi chuyển giao tài sản cho ngƣời đi vay sử dụng có cơ sở tin tƣởng rằng ngƣời đi vay sẽ trả đúng hạn. Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng. Giá trị hoàn trả thông thƣờng phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, nói cách khách ngƣời đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc.
Để thực hiện nguyên tắc này phải xác định lãi suất danh nghĩa lớn hơn tỷ lệ lạm phát. Tuy nhiên, do lãi suất chịu ảnh hƣởng của nhiều yếu tố khách nhau, nên trong một số trƣờng hợp cụ thể lãi suất danh nghĩa có thể thấp hơn lạm phát, ngoại lệ này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn. Trong quan hệ tín dụng ngân hàng tiền vay đƣợc cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tín 9 dụng nhƣ hợp đồng tín dụng, khế ƣớc.
thực chất là lệnh phiếu, trong đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho Bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Vậy tín dụng ngân hàng đƣợc hiểu là một giao dịch về tài sản giữa ngân hàng và khách hàng, trong đó ngân hàng giao tài sản cho khách hàng sử dụng trong khoảng thời gian xác định theo thỏa thuận, khách hàng có nghĩa vụ hoàn trả vô điều kiện cho ngân hàng cả gốc và lãi khi đến hạn thanh toán”. Nguyễn Văn Chƣ (2015), “Giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng hộ gia đình tại Agribank chi nhánh tỉnh Hƣng Yên”. [9] - T n dụn k ác n cá n n là việc Ngân hàng hay Tổ chức tín dụng cho cá nhân vay vốn trong khoảng thời gian xác định theo thỏa thuận, khi đến hạn thanh toán hộ gia đình phải hoàn trả cho Ngân hàng (hay các Tổ chức tín dụng) bao gồm phần vốn gốc vay và phần lãi.
Các ìn t ức t n dụn khách hàng cá nhân 1. Phân loại theo thời gian - Tín dụng ngắn hạn là các khoản tín dụng có thời hạn dƣới 1 năm. Thƣờng phục vụ cho việc huy động và bổ sung vốn lƣu động của khách hàng hoặc phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng cấp thiết của cá nhân. - Tín dụng trung hạn là các khoản tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến dƣới 5 năm.
Thƣờng phục vụ cho nhu cầu mua sắm tài sản cố định; đầu tƣ, mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, công nghệ. - Tín dụng dài hạn là các khoản tín dụng có thời hạn cho vay trên 5 năm. Loại tín dụng này đƣợc dùng để tài trợ cho các công trình, máy móc có giá trị lớn, thời gian khấu hao dài; đầu tƣ phát triển cơ sở hạ tầng của nền kinh tế. Theo thông tƣ số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016: “Tổ chức tín dụng xem xét quyết định cho khách hàng vay theo các loại cho vay nhƣ sau: - Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay tối đa 01 10 (một) năm.
- Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 01 (một) năm và tối đa 05 (năm) năm. - Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 05 (năm) năm”. Phân loại theo hình thức tài trợ. Theo Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010: - Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
- Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lƣu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhƣợng, giấy tờ có giá khác của ngƣời thụ hƣởng trƣớc khi đến hạn thanh toán. - Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lƣu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ. - Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận.” [11] Cho thuê tài chính đƣợc định nghĩa tại Khoản 7 Điều 3 Nghị định 39/2014/NĐ-CP: “Cho thuê tài chính là hoạt động cấp tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính giữa bên cho thuê tài chính với bên thuê tài chính. Bên cho thuê tài chính cam kết mua tài sản cho thuê tài 11 chính theo yêu cầu của bên thuê tài chính và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê tài chính trong suốt thời hạn cho thuê.
Bên thuê tài chính sử dụng tài sản thuê tài chính và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê quy định trong hợp đồng cho thuê tài chính”. Theo mức độ đảm bảo tiền vay Cho vay đảm bảo bằng tài sản: là hình thức cho vay dựa trên cơ sở đảm bảo bằng hình thức nhƣ thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh. Ngân hàng nắm giữ tài sản của ngƣời vay để xử lý thu hồi khoản cấp tín dụng khi ngƣời vay không thực hiện đƣợc các nghĩa vụ đã đƣợc cam kết trong hợp đồng cho vay, hoặc thỏa thuận bảo lãnh. Mặc dù là có tài sản đảm bảo nhƣng hình thức cho vay này vẫn có độ rủi ro vì tài sản có thể bị mất giá hay bên thế chấp, bên bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ của mình.
- Cho vay không đảm bảo bằng tài sản: là hình thức cho vay trên cơ sở sự tín nhiệm của ngƣời vay. Ở loại hình cho vay này, yếu tố quan trọng nhất là ngân hàng phải đánh giá đƣợc uy tín, tín nhiệm cũng nhƣ hiệu quả sử dụng nguồn vốn cho vay. Theo phương thức cho vay. (theo thông tư 39/2016/TT-NHNN) Cho vay từng lần: Mỗi lần cho vay, tổ chức tín dụng và khách hàng thực hiện thủ tục cho vay và ký kết thỏa thuận cho vay.
Cho vay hợp vốn: Là việc có từ hai tổ chức tín dụng trở lên cùng thực hiện cho vay đối với khách hàng để thực hiện một phƣơng án, dự án vay vốn. Cho vay lưu vụ: Là việc tổ chức tín dụng thực hiện cho vay đối với khách hàng để nuôi trồng, chăm sóc các cây trồng, vật nuôi có tính chất mùa vụ theo chu kỳ sản xuất liền kề trong năm hoặc các cây lƣu gốc, cây công nghiệp có thu hoạch hàng năm. Theo đó, tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận dƣ nợ gốc của chu kỳ trƣớc tiếp tục đƣợc sử dụng cho chu kỳ sản xuất tiếp theo nhƣng không vƣợt quá thời gian của 02 chu kỳ sản xuất liên tiếp. 12 Cho vay theo hạn mức: Tổ chức tín dụng xác định và thỏa thuận với khách hàng một mức dƣ nợ cho vay tối đa đƣợc duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.