Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng chính sách. Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng chính sách tại PGD NHCSXH Huyện Vĩnh Lợi. Chương 3: Đánh giá và đề xuất giải pháp, kiến nghị nâng cao chất lượng tín dụng chính sách tại PGD NHCSXH Huyện Vĩnh Lợi. 5 Luan van CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH 1.
Tín dụng chính sách 1. Tổng quan về tài chính vi mô và tín dụng chính sách Thuật ngữ “Tài chính vi mô” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1976 tại Bangladesh khi giáo sư Muhammad Yunus thành lập nên Ngân hàng Grameen với mục đích cung cấp kênh vốn vay cho những người nghèo nhất trong xã hội. Mô hình này đã thành công trong việc giảm tỷ lệ nghèo đói ở Bangladesh và nhanh chóng được phát triển trên phạm vi toàn thế giới. Tuy nhiên, phải đến khi Ủy ban Nobel trao cho Ngân hàng Grameen Bank và người sáng lập Muhammad Yunus Giải thưởng Nobel Hòa bình năm 2006 “Vì những nỗ lực của họ trong việc tạo ra sự phát triển kinh tế và xã hội”, tài chính vi mô mới thực sự thu hút được sự chú ý của thế giới và niềm tin vào khả năng chống lại đói nghèo.
Thuật ngữ “tài chính vi mô” có nghĩa là cung cấp cho người nghèo những món vay nhỏ để giúp họ tham gia vào các hoạt động sản xuất hoặc phát triển kinh doanh nhỏ Theo Ủy ban Châu Âu (European Commission) (2000), khái ni ệm tài chính vi mô được hiểu theo nghĩa rộng hơn: tài chính vi mô là sự cung ứng dịch vụ tài chính trên phạm vi rộng bao gồm tiết kiệm, cho vay, dịch vụ tiền trả, chuyển giao tiền và bảo hiểm tới người nghèo và các hộ gia đình có thu nhập thấp và các doanh nghiệp nhỏ. Tài chính vi mô là một kênh vốn giúp người dân tiếp cận đến cơ hội mới, cải thiện sự tự tin để tham gia vào đời sống xã hội. Theo Christen et al. (2003), tín dụng vi mô là khái niệm tài chính vi mô được dùng theo một nghĩa hẹp hơn.
Thuật ngữ tín dụng vi mô nói đến việc cung cấp các món vay nhỏ và không cần thế chấp tài sản cho những người 6 Luan van không có khả năng tiếp cận đến các nguồn vốn để khởi xướng các hoạt động kinh doanh nhỏ hoặc các hoạt động tạo thu nhập của họ. Phát triển tài chính vi mô bền vững đã trở thành một mục tiêu quan trọng cho sự phát triển kinh tế và được coi là công cụ đắc lực trong công cuộc xóa đói giảm nghèo khi Liên Hợp Quốc chọn năm 2005 là “Năm Quốc tế về Tín dụng vi mô". Tại Việt Nam, trong suốt hơn ba thập kỷ từ khi “Đổi mới”, ngành tài chính vi mô đã và đang khẳng định được tầm quan trọng trong việc hỗ trợ người nghèo, người có thu nhập thấp được tiếp cận các dịch vụ tài chính, ngân hàng một cách thuận tiện và phù hợp. Do vậy, phát triển tài chính vi mô bền vững là mục tiêu quan trọng của ngành tài chính vi mô Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển.
Với mục tiêu hướng tới một ngành tài chính vi mô bền vững, Chính phủ đã phê duyệt Đề án phát triển hệ thống tài chính vi mô đến năm 2020 với mục tiêu đặt ra là “Xây dựng và Phát triển hệ thống tổ chức tài chính vi mô an toàn, bền vững, hướng tới phục vụ người nghèo, ngoài có thu nhập thấp, các doanh nghiệp siêu nhỏ, góp phần thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về đảm bảo an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững”. Đây cũng là bước ngoặt quan trọng trong tiến trình phát triển hoạt động tài chính vi mô tại Việt Nam, đồng thời khẳng định sự thừa nhận của Nhà nước về vai trò và vị trí của tài chính vi mô trong hệ thống tài chính, ngân hàng Quốc gia. Nhìn chung chưa có sự phân tách rõ ràng giữa khái niệm tài chính vi mô và tín dụng vi mô trong các tài liệu xuất bản mà tác giả tìm thấy. Hầu hết các tác giả khi nói đến tài chính vi mô hay tín dụng vi mô đều thống nhất rằng đây là dịch vụ cung cấp các món vay nhỏ để trợ giúp người nghèo hoặc những đối tượng không có khả năng tiếp cận đến thị trường vốn thông thường vay để khởi xướng hoặc mở rộng hoạt động tạo thu nhập của họ.
Để thực hiện chức năng quản lý đất nước, các Chính phủ đều đặt ra các chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ. và sử dụng các giải pháp và phương tiện 7 Luan van cần thiết để tổ chức thực hiện. Nói một cách ngắn gọn, Chính phủ quản lý đất nước bằng các chính sách. Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của Chính phủ bao gồm các mục tiêu mà Chính phủ muốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó.
Tùy theo lĩnh vực, mục tiêu, Chính phủ sẽ có những chính sách khác nhau như chính sách quốc phòng, chính sách ngoại giao, chính sách kinh tế,. Trong kinh tế cũng có nhiều loại chính sách khác nhau, như chính sách về thuế, tiền tệ, tỷ giá, tín dụng. Chính sách tín dụng cũng được chia thành: chính sách tín dụng đối với khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo; chính sách tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hiện nay, ở nước ta đang sử dụng ba loại hình tín dụng chính sách phục vụ cho ba mục tiêu mà Nhà nước muốn hỗ trợ, đó là: tín dụng hỗ trợ đầu thị phát triển, tín dụng hỗ trợ xuất khẩu và tín dụng hỗ trợ giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội.
Về tổ chức thực hiện tín dụng chính sách, Chính phủ đã cho thành lập hai ngân hàng là Ngân hàng phát triển Việt Nam và NHCSXH. Ngân hàng phát triển Việt Nam, mà tiền thân là Quỹ Hỗ trợ phát triển đang thực hiện chính sách hỗ trợ đầu to phát triển và hỗ trợ xuất khẩu. Để thực hiện mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, Chính phủ Việt Nam đã có chính sách tín dụng hỗ trợ người nghèo, vùng nghèo và các đối tượng chính sách khác trong lĩnh vực an sinh xã hội như học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, doanh nghiệp nhỏ, tạo việc làm mới, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo. Loại hình tín dụng này mang tính chính sách nên Nhà nước có chính sách ưu đãi, đặc thù riêng đối với người vay về cơ chế cho vay, cơ chế xử lý rủi ro, lãi suất cho vay, điều kiện, thủ tục vay vốn.
Vì trong đề tài này em chỉ nghiên cứu về loại hình tín dụng chính sách do NHCSXH quản lý theo Nghị định số 78/2002/NĐ-CP của Chính phủ, nên để thuận tiện cho việc theo dõi, tất cả các từ “Tín dụng chính sách” sử dụng 8 Luan van trong các phần dưới đây đều được hiểu là “tín dụng chính sách xã hội”. Dựa trên Điều 1, Nghị định 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ thì tín dụng chính sách xã hội, bài luận sẽ nghiên cứu tín dụng chính sách trên quan điểm đó là việc Nhà nước sử dụng các nguồn lực tài chính phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống cho nhóm người nghèo và các đối tượng chính sách khác dưới hình thức cho vay ưu đãi, điều này cũng sẽ góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội. Đặc điểm tín dụng chính sách Thứ nhất, tổ chức tín dụng được Nhà nước chỉ định hoặc do Nhà nước thành lập để thực hiện tín dụng chính sách trong lĩnh vực ASXH. Thứ hai, tín dụng chính sách là kênh tín dụng của Chính phủ, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận.
Khác với tín dụng thương mại, mục tiêu của tín dụng chính sách là cho vay để phục vụ SXKD, tạo việc làm, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới. Thứ ba, đối tượng vay vốn tín dụng chính sách là người nghèo và các đối tượng chính sách khác theo chỉ định của Chính phủ. Chính phủ quyết định đối tượng vay vốn theo từng chương trình tín dụng. Thứ tƣ, nguồn vốn của tín dụng chính sách là nguồn vốn của Nhà nước, tức là nguồn vốn từ Ngân sách nhà nước và có nguồn gốc từ Ngân sách.
Thứ năm, Chính phủ hoặc người được Chính phủ ủy quyền quyết định về lãi suất cho vay, điều kiện vay, thủ tục cho vay và cách tiếp cận với nguồn vốn tín dụng chính sách. Thứ sáu, phương thức cho vay đa dạng: Tổ chức quản lý tín dụng chính sách có thể cho vay trực tiếp đến khách hàng, có thể ủy thác một phần 9 Luan van hoặc toàn phần cho các tổ chức tín dụng khác và có thể ủy thác một số công đoạn trong quy trình tín dụng cho các tổ chức CTXH. Các hình thức tín dụng chính sách Hoạt động tín dụng chính sách đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác có nhiều đặc điểm khác so với các loại hình tín dụng khác, nhờ có ưu đãi về điều kiện vay vốn, thủ tục vay vốn, lãi suất vốn vay, thời hạn vay và hoàn trả, tài sản đảm bảo. Do đó, các hình thức tín dụng chính sách rất đa dạng và phong phú.
Các nhà kinh tế đã dựa vào các tiêu chí sau để phân loại các hình thức tín dụng chính sách: a. Căn cứ vào thời hạn cho vay: gồm có 03 loại là tín dụng chính sách ngắn hạn, tín dụng chính sách trung hạn và tín dụng chính sách dài hạn. - Tín dụng chính sách ngắn hạn là loại tín dụng có thời hạn dưới 1 năm. Tín dụng này thường áp dụng đối với chăn nuôi gia súc, gia cầm; trồng cây lương thực, hoa màu có thời gian sinh trưởng dưới 12 tháng, dịch vụ, kinh doanh nhỏ.
- Tín dụng chính sách trung hạn là loại tín dụng có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm. Loại tín dụng này phục vụ cho nhu cầu mua sắm tài sản cố định, đầu tư mở rộng sản xuất với quy mô nhỏ, thu hồi vốn nhanh như: Trồng cây công nghiệp ngắn ngày; cây hoa màu; nuôi thủy, hải sản; chăn nuôi gia súc sinh sản, đại gia súc lấy thịt, chăn nuôi đại gia súc sinh sản, lấy lông, lấy sừng; đầu tư mua thiết bị máy móc phục vụ sản xuất, phương tiện vận tải thủy bộ loại vừa và nhỏ, ngư cụ nuôi trồng, đánh bắt thủy, hải sản… - Tín dụng chính sách dài hạn là loại tín dụng có thời hạn cho vay từ trên 5 năm.