CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về tín dụng khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm tín dụng Trong nền kinh tế hàng hóa, trong cùng một thời gian luôn có một số người tạm thời thừa vốn, có vốn tạm thời nhàn rỗi và có nhu cầu cho vay. Bên cạnh đó luôn có một số người tạm thời thiếu vốn, có nhu cầu đi vay. Hiện tượng này làm nảy sinh mối quan hệ kinh tế mà nội dung của nó là vốn được dịch chuyển từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu với điều kiện hoàn trả vốn và lãi tiền vay là lợi nhuận thu được do sử dụng vốn vay. Tín dụng theo nghĩa La tinh là Creditim, có nghĩa là sự tín nhiệm, sự tin tưởng.
Tên gọi này xuất phát từ bản chất quan hệ tín dụng. Theo ngôn ngữ Việt, tín dụng có nghĩa là việc đi vay-cho mượn. Trên thực tế, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về tín dụng, chẳng hạn như: - Theo TS. Hồ Diệu (NXB Thống kê Hà Nội, 2003): “Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán”.
- Theo luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Nguyễn Minh Kiều (NXB Tài chính, 2007): “ TDNH là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ Ngân hàng cho Khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định”. Như vậy, có thể hiểu tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với tất cả các cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp khác trong xã hội. Nó không phải là quan hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi 8 tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu mà là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian, đó là ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng cả hai bên cùng có lợi. Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định. Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng là bên cho vay và khách hàng là đi vay - bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng vốn. Cũng như quan hệ tín dụng khác, tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung: thứ nhất có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử dụng, thứ hai là sự chuyển nhượng này mang tính tạm thời hay có thời hạn, thứ ba là sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí.
Nói cách khác, tín dụng ngân hàng là hình thức phản ánh quan hệ vay và trả nợ giữa một bên là các ngân hàng, các tổ chức tín dụng và một bên là khách hàng vay vốn (cá nhân, tổ chức kinh tế). Hình thức tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng rất linh hoạt vì đối tượng cho vay mượn là tiền tệ và có thể thoả mãn nhu cầu của nhiều đối tượng khách hàng từ các món vay nhỏ để trang trải chi tiêu trong gia đình đến các khoản vay lớn hơn để mở rộng sản xuất kinh doanh, phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội. Tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế linh hoạt, kịp thời.2 Khái niệm tín dụng KHCN Theo cuốn “Retail lending” (2021): “Tín dụng bán lẻ được định nghĩa là tín dụng đóng và mở dành cho các cá nhân với mục đích chi tiêu hộ gia đình, gia đình và các chi tiêu cá nhân khác. Điều này bao gồm các khoản vay tiêu dùng, thẻ tín dụng, khoản vay mua ô tô, khoản vay dành cho sinh viên và khoản vay cho các cá nhân được bảo đảm bằng nhà ở cá nhân của họ, bao gồm khoản vay thế chấp lần đầu, vốn chủ sở hữu nhà và các khoản vay sửa chữa nhà”.
Như vậy, tín dụng KHCN của NHTM là một bộ phận của tín dụng NHTM, do đó có thể hiểu tín dụng KHCN là mối quan hệ chuyển giao vốn giữa ngân hàng và KHCN trong nền kinh tế, trong một thời 9 hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định. Trong đó, KHCN có thể hiểu là một cá thể hoặc hộ gia đình. Tín dụng KHCN là việc ngân hàng chuyển nhượng quyền sở hữu vốn cho khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình với mục đích tiêu dùng và hoạt động sản xuất kinh doanh nhỏ của cá nhân và hộ gia đình đó với những điều kiện nhất định được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Quan niệm về khách hàng cá nhân có thể được hiểu là tất cả các cá nhân có năng lực pháp luật dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
Đối tượng được cung cấp tín dụng rất đa dạng bao gồm những khách hàng có nhu cầu vốn để mua nhà, xây nhà, sửa chữa nhà, mua ô tô hoặc các thiết bị sinh hoạt gia đình hay thực hiện các phương án sản xuất kinh doanh và nhằm đáp ứng một số nhu cầu khác. Các phương thức cấp tín dụng cũng rất đa dạng như: cho vay từng lần, cho vay trả góp, cho vay cầm cố bằng sổ tiết kiệm, sổ lương, cho vay theo hạn mức,. Thời hạn cấp tín dụng rất linh hoạt tùy theo tùy vào mục đích vay của khách hàng và kết quả thẩm định của cán bộ tín dụng. Lãi suất của gói tín dụng được xác định dựa trên biểu lãi suất của ngân hàng, hoặc cũng có thể phụ thuộc vào sự thỏa thuận giữa khách hàng và ngân hàng.
Về tài sản đảm bảo cho khoản tín dụng bao gồm bất động sản (nhà, đất, .), động sản (hàng hóa, máy móc thiết bị,.), số dư tài khoản tiền gửi, các chứng chỉ tiền gửi, bảng lương và các giấy tờ có giá khác, tài sản có giá trị khác. Trước đây, các ngân hàng thương mại ít quan tâm đến đối tượng khách hàng cá nhân, do quy mô của món vay của cá nhân thường nhỏ trong khi đó các chi phí liên quan đến khoản vay của cá nhân không hề nhỏ hơn so với món vay của doanh nghiệp. Chính vì vậy các NHTM thường không chú trọng phát triển cho vay KHCN mà thường hướng tới đối tượng là KHDN. Nhưng ngày nay, khi đời sống người dân ngày càng nâng cao thì nhu cầu của cá nhân phát sinh ngày càng nhiều.
Nhận thức rõ thị trường tín dụng KHCN là một thị trường đầy tiềm năng, các ngân hàng đã quan tâm hơn đến đối tượng này. Có thể thấy lợi nhuận thu được từ hoạt động này sẽ là không nhỏ nếu như ngân hàng thực hiện tốt công tác cho vay và công tác quản lí khoản vay. Các thủ tục cho vay ngày càng trở nên nhanh gọn và đơn giản hơn, đáp ứng được nhiều hơn những yêu cầu của khách hàng đưa ra.3 Đặc điểm của tín dụng KHCN Tín dụng khách hàng cá nhân có những đặc điểm riêng thể hiện sự khác biệt với các loại hình tín dụng khác. Cụ thể như sau: a.
Khách hàng vay: khách hàng của các khoản tín dụng khách hàng cá nhân là các cá nhân và hộ gia đình. Theo thống kê, những người có thu nhập cao thường có xu hướng vay tiền nhiều hơn những người có thu nhập thấp để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình, đồng thời họ cũng có nhu cầu vay tiền nhiều hơn so với thu nhập hàng năm của mình. Tương tự như vậy, những gia đình mà chủ gia đình hay người tạo thu nhập chính có trình độ học vấn cao cũng thường có nhu cầu sử dụng những hàng hóa hiện đại và xa xỉ hơn, do đó mà nhu cầu vay vốn cũng cao hơn. Mục đích vay: nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh của cá nhân và hộ gia đình.
Nhu cầu vay vốn phụ thuộc vào tâm lý khách hàng và chu kỳ kinh tế. Khi nền kinh tế tăng trưởng ổn định, khách hàng cá nhân sẽ lạc quan hơn về tương lai, họ kỳ vọng sẽ có khoản thu nhập nhiều hơn trong tương lai do vậy sẽ thúc đẩy sự chi tiêu cho tiêu dùng hoặc đầu tư vào sản xuất kinh doanh ở hiện tại. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, người dân thường có xu hướng cắt giảm chi tiêu, giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh, thay vào đó sẽ là tăng cường tiết kiệm và hạn chế vay mượn từ ngân hàng. Mức thu nhập và trình độ dân trí là hai nhân tố tác động rất lớn đến nhu cầu vay của khách hàng.
Quy mô khoản vay: hầu hết các khoản tín dụng KHCN có quy mô nhỏ nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cá nhân trừ các khoản vay mua BĐS, tuy nhiên số lượng các khoản vay tương đối lớn. Do tín dụng KHCN đáp ứng nhu cầu của cá nhân và các hộ gia đình nên quy mô của một khoản tín dụng tương đối nhỏ. Trong khi đó, số lượng các khoản tín dụng tương đối lớn do đối tượng của tín dụng cá nhân là các cá nhân và hộ gia đình với số lượng nhiều, nhu cầu tiêu dùng rất đa dạng. Đặc biệt, ở các NHTM định hướng phát triển theo mô hình ngân hàng bán lẻ thì số lượng KHCN là rất lớn.
Chính vì vậy, tổng quy mô cho vay KHCN của các NHTM chiếm tỉ trọng khá lớn trong tổng dư nợ của ngân hàng. Ngoài ra, các khoản tín dụng của KHCN thường xuyên phát sinh và khối lượng giao dịch ngày càng nhiều. Vì số lượng khoản tín dụng nhiều nên lợi nhuận từ hoạt động tín dụng KHCN không hề nhỏ nếu các NHTM tập trung khai thác. Rủi ro đối với tín dụng KHCN: tín dụng KHCN có mức độ rủi ro tương đối lớn và được coi là tài sản rủi ro nhất trong danh mục tài sản của ngân hàng.