CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE CHAT LƯỢNG CHAT LƯỢNG THIET KE CONG TRINH TRUYEN TAI DIEN. Công tác quân lý chất lượng thiết kế LLL. Đặc điễn chung ngành xây đựng. Công trình xây đựng và công trình truyền tải điện Công tinh xây dơng (CTXD) là sản phẩm được tạo thinh bởi sức lao động của com người, vat liệu xây dung, thiết bị lắp đặt vào công trình, được in kết định vi với đắt có thể bao gồm phẩn đưới mặt ất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước vàphần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kể.
Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công tinh công nghiệp, giao thô nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT), công trình hạ Ling kỹ thuật và công trình khác. [4] Cong trình tuyển tải điện là công trình được xây dựng để truyền tải điện năng khắp các vùng trong cả nước. Nhiệm vụ chủ yếu của cá công trình truyền tải là truyễn tái điện năng từ các trạm thủy điện, các nhà máy nhiệt điện, từ nguồn cung cấp nước ngoài cung cắp điện cho các vùng trong cả nước phục vụ nhủ câu sinh hoạt và sản xuấ của người dã „ nhà máy, các khu công nghiệp 1. Đặc điểm chung ngành xây dựng [12] Xây dựng cơ bin (XDCB) là ngành san xuất độc lập có chức năng tái sản xuất tài sản số định cho kinh quốc dân.
Nó tạo nên cơ sở vật chất cho xã hội, tăng iềm lực kinh tế và quốc phòng của đắt nước. Hơn thé nữa, đầu tơ XDCB gắn liên với việc ứng dung các công nghệ hiện đại do đó góp phần thúc đầy sự phát triề của khoa học kỹ thuật đối với các ngành sản xuất vật chit. Nó cổ tác động mạnh mẽ tối hiệu quả của quá tình sản xuất kinh doanh. Vì vậy, một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân nói chung và quỹ tích lug ni riêng với vốn đầu tr, tài trợ của nước ngoài được sử đụng trong lĩnh vực XDCB.
So với các ngành sản xuất khác, XDCB có những đặc diém kính tế ky thuật đặc trưng, được thể biện rit rõ ở sản phẩm xây lắp và quá trình sáng tạo ra sản phẩm của ngành. "Đặc điểm của sản phẩm xây lắp là có quy mô. cấu phức tạp, thời gian sử dung lâu đi, có giá tị lớn đòi hỏi các nhà xây dụng phải dự đoán trước xu hướng tin bộ xã hội để tránh bị lạc hậu. Phong cách kiến trúc và kiểu đáng mỗi sản phẩm can phải phù.
hợp với văn hod dân tộc vùng min, quốc gia. Nó không chỉ ảnh hưởng tới ôi thọ cia công trình vma còn ảnh hưởng tới sự an toàn cho người sử dung, Sản phẩm xây lắp mang tính tổng hợp phát huy tác dụng v mặt kinh Ế, chính trị toán, nghệ thuật. Nó rất đa dang nhưng lại mang tính độc lập, mỗi một công tình được xây dựng theo một thiết kệ kỹ thuật riêng, có giá trị dy toán riêng và tại một địa điểm nhất định, nơi sản xuất ra sản phẩm cũng đồng thôi là nơi sau này khi sản phẩm hoàn thành được đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng. Những đặc điểm này có tác.
động lớn tới giá trị sản xuất ngành xây dựng. Sin phẩm xây dụng là sản phẩm đơn chiếc và được iu thy theo cích tiêng. Các sản phẩm được coi như tiêu thy trước khi được xây dựng theo giá tị dự toán hay giá thoả thuận với chủ đầu tư (giá đấu thầu) do đó tính chất hàng hoá của sản phẩm xây lắp "hông được thé hiện rõ bởi vì sản phẩm xây lắp là hằng hoá đặc biệt Quá nh từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành công trình ban giao và đưa vào sir dụng thường kéo đài. Nó phụ thuộc quy mô và tính chất phức tạp thuật của từng loại sông tình.
Không những thé quả nh thi công được chia thành các giai đoạn. mỗi giả đoạn th công lại chia thành nhiều công việc khác nhan, các công việc chủ yếu din ra i trời chịu tác động rất lớn của các nhân tố môi trường, đòi hỏi các nhà xây dựng. giám sát chặt chẽ những biến động của thiên nhiên để hạn chế những ảnh hưởng xấu của nó đến mức thấp nhất. Chất lượng công trình xây dựng 1.
Các quan niệm về chất lượng “Trong cuộc sống con người, khái niệm chất lượng sàn phẩm đã có từ lâu, đây là một phạm tr tắt rộng và phức tạp, phản ánh tổng hợp các nội dung kỹ thuật, kỉnh tế và xã hội. Trong chiến lược phát triển của mỗi ngành nel „ của các công ty dựa vào nhủ cầu. của thị trường đều có những quan niệm vẻ chất lượng riêng cho mình “heo quan điểm triết học, chất lượng là tính xác định bản chit nào đồ của sự vật, hiện tượng, tính chất mà nó khẳng định nó chính là cái đồ chứ không phải là cái khác hoặc cũng nhờ nó mà nó tạo ra một sự khác biệt với một khách thể khác. Chất lượng của khách thể không quy vé nhũng tính chất riêng biệt của nó mà gắn chặt với khách thể như một khối thống nhất bao chùm toàn bộ khách thé.
Theo quan điểm này thì chất lượng đã mang trong nó một ý nghĩa hết súc tru lượng, nó không phù hợp với thực tế đang đồi hồi. "Một quan điểm khác về chất lượng cũng mang một tính chit trừu tượng là chất lượng theo quan điểm này được định nghĩa như là sự dat một mức độ hoàn hảo mang tính chất tuyệt đối. Chất lượng là một cái gì đó mà làm cho mọi người mỗi khi nghe thấy đều nghĩ ngay đến một sự hoàn mỹ tốt tốt nhất nhất, cao nhất. Như vậy, theo nghĩa này thì chất lượng vẫn chưa thoát khỏi sự tru tượng của nó, Đây là một khái niệm còn mang nặng tính chất chủ quan, cục bộ và quan trọng hơn, khái niệm này về chất lượng vẫn chưa cho phép ta có thể định lượng được chất lượng.
Vì vậy, nó chỉ mang một ý nghĩa nghiên cứu lý thuyết mà không có khả năng áp dụng trong kinh doanh. Một quan điểm thứ 3 về chit lượng theo định nghĩa của W.Shemart, một nhà quản lý người mỹ, là người khỏi xưởng và đạo diễn cho quan điểm này đối với vin đ về lượng và quản lý chất lượng. Shemart cho rằng “chit lượng sản phẩm rong sin xuất kinh doanh công nghiệp là một tập hợp những đặc tính của sản phẩm phản ánh giá tị sử dụng của nó So với những khái niệm trước đó về chất lượng thi ở khái niệm này, Shemar đã coi chất lượng như là một vẫn để cụ thể và có thể định lượng được. Theo quan điểm này thì chất lượng sin phẩm sẽ là một yếu tổ nào dé tổn tỉ trong các đặc tính của sin phẩm và vì tồn tại trong các đặc tính của sản phẩm cho nên chất lượng sản phẩm cao.
cũng đồng nghĩa với việc phải xác lập cho các sin phẩm những đặc tính tốt hơn phân ánh một giá tị cao hơn cho sin phẩm và như vậy chỉ phí sản xuất sản phẩm cũng cao hon làm cho giá bán của sản phẩm ở một chừng mực nào đó khó được người tiêu dùng và xã hội chấp nhận. Do vậy, quan điểm về chất lượng này của Shewart ở một mặt nào 46 có một ý nghĩa nhất định nhưng nhìn chung đây là một quan điểm đã tách rời chất lượng với người iêu dùng và các nhu cầu của họ. Nó không thể thoả min được các diều kiện về kinh doanh và cạnh tranh rong bổi cảnh hiện nay [6] Quan điểm thứ 4 về chất lượng xuất phát từ phía người sản xuất. Theo họ quan điểm này, chất lượng sin phẩm là sự đạt được và tuân thủ ding những tiêu chuln.
những yêu cầu về kinh tế và kỹ thuật đã được đặt ra từ trước trong khâu thiết kế sản phim. “Theo quan điễm này, chất lượng gẵ lên v vấn di ông nghệ và để cao vai td của công nghệ trong việc tạo ra sin phẩm với chất lượng cao. Quan điểm này cho rằng hat lượng là một trình độ cao nhất mà một sản phẩm có được khi san xuất” Do xuất phát từ phía người sin xuất nên khát niệm về chất lượng theo quan điểm này còn có nhiều bat cập mang tính chat bản chất và khái niệm này luôn đặt ra cho các nhà sản xuất những câu hỏi không i dp được. Thứ nhất, do đề cao yếu tổ công nghệ trong vin đề sản xuất mà quên đi rằng vin đề sản phẩm có đạt được chất lượng, sao hay không chỉnh là do người tiêu dùng nhận xét chứ không phải do các nhà sản xuất nhận xét dựa trên một số cơ sở không đầy đủ và hiểu tính thuyết phục, đồ là công nghệ sản xuất của họ, thứ hai, câu hỏi đặt ra cho các nhà sản xuất là họ lấy gì để đảm.
bảo rằng quá tình sin xuất được thực hiện trên công nghệ của ho không gặp một ch ngại hay ắc rồi nào trong suốt quá tình sản xuất và một điều nữa, liệu công nghệ của họ có còn thích hợp với nhu cầu vỀ cá loại sản phẩm cả sản phẩm cing loại và sản phẩm thay thé trên thị trường hay không. Nhu vậy, theo iệm về chất lượng này các nhà sản xuất không tính đến những tắc động luôn luôn thay đổi và thay đổi một cách liên tục của môi trường kinh doanh và hệ quả tắt yếu của nó, trong khi họ đang say xưa với những sin phẩm chất lượng cao của. họ thi cũng là lúc nhu cầu của người tiêu dùng đã chuyển sang một hướng khác, một cấp độ cao hơn. "Để khắc phục những hạn chế tồn tại và những khuyết tật trong khái niệm trên buộc các nhà quản lý, các tổ chức, doanh nghị sản xuất kinh doanh phải đưa ra một khái niệm bao quát hơn, hoàn chính hơn về chất lượng sản phẩm, khái niệm.
ày một mặt phải đảm bảo được tính khách quan, mặt khác phải phản ánh được vấn đề hiệu quả của sản xuất kinh doanh mà chất lượng của sản phẩm chất lượng cao sẽ mang lại cho doanh cho tổ chức. Cụ thể hơn, khái hit lượng sản phim xuất phát từ hướng người tiêu dùng. Theo quan điểm này thì chất lượng là sự phù hợp một cách tốt nhất với các yêu cầu và mục đích của người tiêu dùng”, với khái niệm. trên về chất lượng thì bước đầu tiên của quá trình sản xuất kinh doanh phải là việc nghiên cứu và tìm hiểu nhu cằu của người tiêu dùng v các loại sản phẩm hàng hod hy dịch vụ mà doanh nghiệp định cung cấp rên thi trường.