Chương 1: Năng lượng tái tạo và năng lượng mặt trời 7 1.1 Khủng hoảng năng lượng và năng lượng tái tạo Mười vấn đề lớn của nhân loại trong vòng 50 năm tới đã được ghi nhận theo thứ tự nghiêm trọng là: (1) năng lượng, (2) nước, (3) thực phẩm, (4) môi trường, (5) nghèo đói, (6) khủng bố và chiến tranh, (7) bệnh tật, (8) giáo dục, (9) thực hiện dân chủ và (10) bùng nổ dân số. Năng lượng quả thật là mối quan tâm hàng đầu của nhiều chính phủ trên thế giới. Nguồn năng lượng chính của nhân loại hiện nay là dầu hỏa. Nó quí đến nỗi được người ta cho một biệt hiệu là "vàng đen".
Một vài giờ cúp điện hay không có khí đốt cũng đủ làm tê liệt và gây hỗn loạn cho một thành phố. Cuộc sống văn minh của nhân loại không thể tồn tại khi thiếu vắng năng lượng. Theo thống kê, hiện nay hơn 85 % năng lượng được cung cấp từ dầu hỏa và khí đốt. Nhưng việc thu hoạch từ các giếng dầu sẽ đạt đến mức tối đa trong khoảng năm 2010 - 2015, sau đó sẽ đi xuống vì nguồn nhiên liệu sẽ cạn kiệt cùng năm tháng.
Người ta cũng tiên đoán nếu dầu hỏa được tiếp tục khai thác với tốc độ hiện nay, kể từ năm 2050 lượng dầu được sản xuất sẽ vô cùng nhỏ và không đủ cung cấp cho nhu cầu toàn thế giới. Như vậy, nguồn năng lượng nào sẽ thay thế cho "vàng đen"? Các nhà khoa học đã và đang tìm kiếm những nguồn năng lượng vô tận, sạch và tái sinh (renewable energy) như: năng lượng từ mặt trời, gió, thủy triều, nước (thủy điện), lòng đất (địa nhiệt) v. Trong những nguồn năng lượng này có lẽ năng lượng mặt trời đang được lưu tâm nhiều nhất.2 Ưu thế của điện mặt trời Ánh sáng mặt trời là một nguồn năng lượng dồi dào, nhưng khi tính ra con số rất ít người biết đến là mặt trời truyền đến cho ta một năng lượng khổng lồ vượt ra ngoài sự tưởng tượng của mọi người. Trong 10 phút truyền xạ, quả đất nhận một năng lượng khoảng 5 x 1020 J (500 tỷ tỷ Joule), tương đương với lượng tiêu thụ của toàn thể nhân loại trong vòng một năm.
Trong 36 giờ truyền xạ, mặt trời cho chúng ta một năng lượng bằng tất cả những giếng dầu của trái đất. 8 Hơn nữa, nó không phát sinh các loại khí nhà kính (greenhouse gas) và khí gây ô nhiễm. Nếu con người biết cách thu hoạch nguồn năng lượng sạch và vô tận nầy thì có lẽ loài người sẽ mãi mãi sống hạnh phúc trong một thế giới hòa bình không còn chiến tranh vì những cuộc tranh giành quyền lợi trên các giếng dầu. Có thể nói ĐMT là loại năng lượng nhiều ưu thế ngày càng thu hút sự quan tâm của con người.
Từ những đặc tính siêu sạch, vô tận, tự hành ổn định lắp đặt tại chỗ, tùy công suất sử dụng v.v… đã làm cho ĐMT trở nên tiện dụng và có sức cạnh tranh. Nếu bỏ qua yếu tố “có sẵn” ở các mạng điện thành phố, tại những vùng xa vùng có chưa sẵn lưới điện và đặc biệt ở khu vực địa hình phức tạp, trên núi hiểm trở, lênh đênh giữa biển khơi thì ĐMT là một dạng năng lượng hoàn toàn có sức thuyết phục. Yếu tố môi trường của ĐMT không chỉ dùng ở góc độ sạch đơn thuần, không gây ra chất thải mà còn ở sự yên tĩnh, không gây bất cứ sự ồn ào nào làm phiền toái người sử dụng. Một điều hiển nhiên khác là sự trường tồn vĩnh viễn của ĐMT bởi một khi nó mất đi, cũng đồng nghĩa với sự hủy diệt của hành tinh.
Yếu tố tự hành của ĐMT ngày càng phù hợp với xu thế phát triển mới của khoa học công nghệ hiện đại. Bằng khả năng tự hành, nguồn ĐMT giúp các nhà khoa học thiết kế một thế hệ thiết bị “thông minh” làm việc tự hành không cần sự bận tâm của con người. Khả năng dành cho ĐMT một ưu thế tuyệt đối trên những công trình dài chuyển tiếp viễn thông, vệ tinh viễn thông, các phao neon, hải đăng biển, máy bay do thám v.v… Ở một góc độ khác, có thể nhìn nhận ĐMT như một yếu tố quyết định cho công nghệ thông tin viễn thông toàn cầu, gián tiếp thúc đẩy sự phát triển vượt bậc của xã hội loài người. Điện mặt trời không phụ thuộc vào mạng chung nên có khả năng thiết kế lắp đặt tại chỗ theo nhu cầu của người sử dụng.
Thậm chí khi nhu cầu gia tăng, ta có thể dễ dàng tăng công suất giàn panô PMT để đáp ứng một cách hiệu quả và không lãng phí.3 Bức xạ mặt trời 1.1 Khái niệm Hình 1.1: Bản đồ tổng bức xạ mặt trời hằng năm kW/m2 Bản đồ tổng bức xạ mặt trời hằng năm trên trái đất cho bức xạ mặt trời là một nguồn năng lượng khổng lồ,vĩnh cữu và không chất thải đối với trái đất. Nguồn năng lượng này đã đang và sẽ luôn là thành phần quan trọng duy trì cuộc sống của chúng ta. Theo khảo sát thì khu vực thấp nhất trên trái đất cũng nhận được lượng bức xạ là 2 kWh/m2 ngày, khu vực cao nhất đạt tới 7 kWh/m2 ngày. Vào những ngày trời quang mây, tổng xạ mặt trời thay đổi theo góc từ thiên đỉnh mặt trời đồng thời phụ thuộc theo tỉ lệ tương ứng với hàm lượng khí dioxit cacbon (CO2), hơi nước và bụi có trong khí quyển.
Bức xạ trực tiếp của mặt trời gấp khoảng 10 lần so với bức xạ khuếch tán khi mặt trời gần tới vị trí cực đỉnh và gần như bằng nhau khi nó tiến tới đường chân trời. Trong điều kiện thuận lợi của khí quyển, cường độ bức xạ cực đại ghi nhận tại mực nước biển là 1 kWh/m2 so với ngoài vũ trụ là 1. Điều này cho thấy ngoài khoảng không vũ trụ nguồn năng lượng mặt trời tăng thêm khoảng 30% so với trên mặt đất. 10 Giá trị cực đại của ánh sáng mặt trời ngoài tầng khí quyển được gọi là giá trị AMO (Air mass 0), còn giá trị cực đại của ánh sáng mặt trời trên mặt đất ngay tại mặt nước biển được gọi là giá trị AMI (Air mass 1).
(Đây là tiêu cuẩn cơ bản để chuẩn xác hiệu suất của pin mặt trời (Pin mặt trời) trong các phòng thí nghiệm và trên thị trường.2 Bức xạ mặt trời ở Việt Nam Bảng 1-1 và 1-2 bên dưới cho chúng ta thấy tổng bức xạ trung bình ngày suốt 12 tháng tại 12 trạm điển hình phân bố đều trên lãnh thổ Việt Nam. Con số này đã được thống kê ghi nhận trong suốt thời gian dài (từ 3 đến 20 năm), dựa trên số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2013.1: Tổng lượng bức xạ mặt trời tổng cộng trung bình ngày trong 12 tháng 2 (kW/m ngày) Khu Vực 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm Cao Bằng 2.2: Số giờ nắng trung bình qua các năm của một số khu vực (giờ/năm) Khu vực/Năm 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 Lai Châu 1884,0 1600,0 1645,0 2049,9 1913,8 1664,1 1846,5 Sơn La 2063,0 2083,0 1831,0 2208,1 2163,2 1782,8 2068,3 11 Tuyên Quang 1421,0 1472,0 1358,0 1578,0 1578,0 1389,6 1372,5 Hà Nội 1363,0 1462,0 1234,0 1413,0 1256,0 1063,6 909,7 .Bãi Cháy 1457,0 1409,0 1338,0 1602,2 1285,6 1430,8 1147,0 Nam Định 1418,0 1396,0 1215,0 1454,3 1305,0 1164,6 1153,4 Vinh 1558,0 1564,0 1314,0 1523,8 1484,0 1188,2 1460,6 Huế 1899,0 1659,0 1546,0 1860,2 1973,8 1497,5 1865,9 Đà Nẵng 2193,0 2002,0 1860,0 2112,8 1434,0 1781,6 2101,3 Qui Nhơn 2401,0 2411,0 2289,0 2426,0 2528,6 2178,7 2567,5 Pleiku 2455,0 2248,0 2349,0 2329,6 2323,6 2214,9 2469,8 Đà Lạt 2213,0 1950,0 1920,0 2029,1 2029,1 1912,8 2111,4 Nha Trang 2712,0 2502,0 2407,0 2493,1 2527,3 2374,3 2688,1 Vũng Tàu 2613,0 2349,0 2509,0 2575,9 2575,9 2435,3 2661,5 Cà Mau 2175,0 1965,0 1939,0 1914,3 1914,3 1892,9 2071,9 Bảng 1.3: Số giờ nắng trung bình ngày trong 12 tháng của một số khu vực (giờ/ngày) Khu Vực 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm Cao Bằng 1.0 12 2 KWh/m day 7 6 5 4 3 Hochiminh City 2 Hanoi Da Nang 1 Month 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Hình 1.2: Biểu đồ bức xạ mặt trời ở 03 vùng của Việt Nam Ở các tỉnh phía Nam số giờ nắng rung bình ngày khoảng 6. Tuy nhiên có chênh lệch khá lớn giữa các địa phương như Cần Thơ đạt 7.0 h/ngày nhưng ở Đà Lạt chỉ có 6,1h/ngày. Cường độ tổng lượng bức xạ trung bình ngày trong 12 tháng đạt khoảng 5 kWh/m ngày.
Từ mùa khô chuyển sang mùa mưa, tổng lượng bức xạ trung bình giảm khoảng 20%. Ở các tỉnh phía Bắc, số giờ nắng trung bình chỉ đạt 4.1 h/ngày và cường độ bức xạ trung bình khoảng 4 kWh/m/ngày. Như vậy, nhìn một cách khái quát lượng bức xạ mặt trời ở các tỉnh phía Bắc giảm 20% so với ởcác tỉnh miền Trung và miền Nam. Nếu xem xét cụ thể ở một số tỉnh sự chênh lệch này càng lớn có thể lên đến 50%.
Điều quan trọng hơn cả là ở các tỉnh phía Bắc, lượng bức xạ mặt trời không phân bố đều quanh năm. Vào mùa đông, mùa xuân mưa phùn kéo dài hàng chục ngày liên tục và nguồn bức xạ mặt trời dường như không đáng kể chỉ còn khoảng 1-2 2 kWh/m /ngày. Điều này không xảy ra đói với các tỉnh phía Nam, do có mặt trời chiếu rọi quanh năm, ổn định cả về mùa mưa, do đó việc sử dụng năng lượng mặt trời ở các tỉnh phía Nam Việt Nam sẽ mang lại một hiệu quả kinh tế khá lớn.4 Tình hình phát triển điện mặt trời trên thế giới Có thể nói sự phát triển Điện Mặt Trời gắn liền với sự phát triển kỹ thuật và công nghệ chế tạo pin Mặt Trời. Cho đến nay nhìn chung Pin Mặt Trời được chế tạo từ 5 nhóm vật liệu chính là: Tinh thể Silic (Si): cadmium Telluride (Cd Te), Copper indium diselenide (Cis) và vật liệu bán dẫn AI BV rất đắt tiền nhưng điện suất cao nhất thường chỉ được sử dụng trong mục đích hàng không vũ trụ và quân sự.
Vật liệu thông dụng nhất và đang được sản xuất công nghiệp hiện nay trên thế giới chủ yếu là vật liệu silic vô định hình được các nhà công nghiệp trên toàn thế giới không ngừng nâng cao và cải thiện. Có thể nói sự phát triển nhanh chóng của thị trường Pin Mặt Trời thế giới. Nhất là trong vòng 15 năm qua, ĐMT có tốc độ tăng trưởng trung bình mỗi năm khoảng 25%. Riêng trong năm 2004, tổng công suất lắp đặt pin mặt trời toàn cấu đạt 927MW, gấp đôi so với năm 2003 (574MW) và gấp 45 lần so với 20 năm trước (năm 1984 chỉ khoảng 20MW), ĐMT trở thành ngành công nghiệp phát triển nhanh nhất thế giới.