MỞ ĐẦU Hiện nay, nhiên liệu sinh học nói chung và biodiesel nói riêng vẫn đang thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu nhằm cải tiến các phương pháp sản xuất, giảm chi phí vận hành, tăng giá trị sản phẩm với mục đích tạo ra nguồn nhiên liệu bền vững cho tương lai. Biodiesel chủ yếu được sản xuất từ dầu mỡ động thực vật bằng phản ứng traneste hóa giữa triglyceride và rượu mạch ngắn. Tuy nhiên, quá trình sản xuất biodiesel theo cách này thường tạo ra khoảng 10% glycerol có lẫn nhiều tạp chất. Do quá trình tinh chế rất tốn kém nên lượng glycerol này thường được xem như chất thải.
Gần đây, hướng nghiên cứu tổng hợp nhiên liệu thay thế dầu đốt lò, trên cơ sở dầu mỡ động thực vật mà không phát sinh chất thải glycerol, được quan tâm trên thế giới. Điển hình là các nghiên cứu liên quan đến phản ứng inter-este hóa giữa triglyceride và methyl acetate để tạo ra methyl este của axit béo và triacetine. Phản ứng inter-este hóa giữa triglyceride và methyl acetate có thể diễn ra trong điều kiện siêu tới hạn của methyl acetate (áp suất khoảng 20Mpa, nhiệt độ 270 – 380oC) không cần sử dụng xúc tác, hoặc các điều kiện khác, được xúc tác bằng các enzym (nhiệt độ phòng, thời gian phản ứng ≥72h), hoặc trong khoảng nhiệt độ hồi lưu 60oC sử dụng xúc tác đồng thể như CH3ONa/CH3OH 30%, CH3OK/CH3OH 26%, Tin(II) 2-ethylhexanoate, p-toluenesulfonic, hoặc xúc tác dị thể KOH, CH3ONa (tinh thể khan), S2O82-/ZrO2–TiO2–Fe3O4 như trong các báo cáo từ tài liệu. Theo nhóm tác giả Janos Thesz, để tạo ra sản phẩm phù hợp làm nhiên liệu đốt lò, phản ứng chỉ cần dừng lại ở bước thay thế một phần hoặc hoàn toàn các axit béo trong phân tử triglyceride.
Khi đó, thành phần của hỗn hợp sản phẩm gồm các metyl este của axit béo và các monoacetine, diacetine, triacetine. Quá trình phản ứng không hoàn toàn này được gọi là phản ứng biến tính triglyceride. Chất lượng sản phẩm được đánh giá theo một số chỉ tiêu chất lượng đối với biodiesel. Quá trình inter-este hóa nêu trên đã được đánh giá là có hiệu quả kinh tế cao hơn 10% vì tất cả sản phẩm của phản ứng đều được sử dụng làm nhiên liệu thay thế, trong khi quá 1 trình sản xuất biodiesel theo hướng truyền thống thải ra khoảng 10% khối lượng glycerol.
Hơn nữa, phản ứng inter-este giữa triglyceride và methyl acetate diễn ra trong điều kiện tương tự như phản ứng giữa triglyceride và methanol, do đó tận dụng được công nghệ của quá trình sản xuất biodiesel theo phương pháp truyền thống. Đây là hướng nghiên cứu mới, có tiềm năng lớn trong việc giảm chi phí sản xuất biodiesel, tăng lượng sản phẩm, thân thiện hơn với môi trường do không tạo ra chất thải thứ cấp. Tuy vậy, hướng nghiên cứu này vẫn còn hoàn toàn bỏ ngỏ ở Việt Nam. Vì những lý do đó, đề tài luận văn này định hướng nghiên cứu phản ứng biến tính triglyceride bằng methyl acetate trên các loại xúc tác nói chung và xúc tác dị thể nói riêng nhằm tạo ra nhiên liệu đốt lò thế hệ mới, trên cơ sở triglyceride biến tính từ dầu mỡ động thực vật phế thải.
Hi vọng rằng các kết quả đạt được sẽ có những đóng góp nhất định cho sự phát triển của lĩnh vực nhiên liệu sinh học ở Việt Nam. Giới thiệu lò hơi và một số loại nhiên liệu chính cho lò hơi Lò hơi là thiết bị sử dụng nhiên liệu để đun sôi nước tạo thành hơi nước để phục vụ cho các yêu cầu về nhiệt trong các nghành công nghiệp như sấy, gia nhiệt, hóa dầu, các quá trình chuyển hóa hóa học… Tùy vào mỗi mục đích sử dụng mà người ta tạo nguồn hơi có nhiệt độ và áp suất khác nhau phù hợp để đáp ứng cho các ngành công nghiệp. Lò hơi được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp vì tính an toàn không gây cháy để vận hành các thiết bị hoặc động cơ ở những khu vực làm việc cần cấm lửa và nguồn điện. Có 6 loại lò hơi thông dụng thường được dùng hiện nay bao gồm: Lò hơi ống nước: Ở lò hơi ống nước, nước cấp qua các ống đi vào tang lò hơi.
Nước được đun nóng bằng khí cháy và chuyển thành hơi ở khu vực đọng hơi trên tang lò hơi. Lò hơi dạng này được lựa chọn khi nhu cầu hơi cao đối với nhà máy phát điện. Lò hơi ống nước có các đặc điểm sau: Sự thông gió cưỡng bức, cảm ứng, và cân bằng sẽ giúp nâng cao hiệu suất cháy. Yêu cầu chất lượng nước cao và cần phải có hệ thống xử lý nước.
Phù hợp với công suất nhiệt cao. Lò hơi ống nước 3 Lò hơi buồn lửa tầng sôi: Lò hơi buồng lửa tầng sôi , sử dụng nhiên liệu linh hoạt, hiệu suất cháy cao hơn và giảm thải các chất gây ô nhiễm độc hại như SOx và NOx. Nhiên liệu đốt của những lò hơi loại này gồm có than, vỏ trấu, bã mía, và các chất thải nông nghiệp khác. Lò hơi buồng lửa tầng sôi có các mức công suất rất khác nhau từ 0,5 T/h cho tới hơn 100 T/h.
Lò hơi ống lửa: Với loại lò hơi này, khí nóng đi qua các ống và nước cấp cho lò hơi ở phía trên sẽ được chuyển thành hơi. Lò hơi ống lửa thường được sử dụng với công suất hơi tương đối thấp cho đến áp suất hơi trung bình. Do đó, sử dụng lò hơi dạng này là ưu thế với tỷ lệ hơi lên tới 12.000 kg/giờ và áp suất lên tới 18 kg/cm2. Các lò hơi này có thể sử dụng với dầu, ga hoặc các nhiên liệu lỏng.
Lò hơi ống lửa Lò hơi buồng lửa tầng sôi không khí: Phần lớn các lò hơi vận hành dạng này là theo quá trình cháy tầng sôi không khí. Quá trình này phức tạp hơn là bổ sung một buồng đốt 4 tầng sôi vào lò hơi vỏ sò truyền thống. Những hệ thống như thế này được lắp đặt tương tự như lò hơi ống nước. Than được đập theo cỡ 1 – 10 mm phụ thuộc vào loại than, loại nhiên liệu cấp cho buồng đốt.
Không khí khí quyển, đóng vai trò là cả khí đốt và khí tầng sôi, được cấp vào ở một mức áp suất, sau khi được đun nóng sơ bộ bằng khí thải. Những ống trong tầng nhiên liệu mang nước đóng vai trò là thiết bị bay hơi. Những sản phẩm khí của quá trình đốt đi qua bộ phận quá nhiệt của lò hơi, qua bộ phận tiết kiệm, thiết bị thu hồi bụi và thiết bị đun nóng khí sơ bộ trước khi ra không khí. Lò hơi buồng lửa tầng sôi tuần hoàn khí: Với hệ thống tuần hoàn, các thông số của tầng nhiên liệu được duy trì để thúc đẩy việc loại sạch những hạt rắn trong tầng nhiên liệu.
Chúng nâng lên, pha trộn trong dàn ống lên và hạ xuống theo cyclon phân li và quay trở lại. Trong tầng nhiên liệu, không có ống sinh hơi. Việc sinh hơi và làm quá nhiệt hơi diễn ra ở bộ phận đối lưu, thành ống nước và ở đầu ra của dàn ống nâng lên. Lò hơi sử dụng nhiên liệu phun: Hầu hết các nhà máy nhiệt điện (than) đều sử dụng lò hơi dùng nhiên liệu phun, và rất nhiều lò hơi ống nước công nghiệp cũng sử dụng loại nhiên liệu phun này.
Công nghệ này được nhân rộng rất nhanh và hiện có hàng nghìn nhà máy áp dụng, chiếm hơn 90% công suất đốt than. Nhiên liệu thường được sử dụng cho lò hơi bao gồm ba loại chính là dạng rắn, dạng lỏng và dạng khí. Trong đó nhiên liệu dạng rắn và dạng lỏng được sử dụng nhiều hơn cả do tính kinh tế của nó mang lại. Nhiên liệu dạng rắn bao gồm: than đá, than củi và than củi sinh học; nhiên liệu lỏng bao gồm dầu FO và diesel.
Dầu diesel và lò hơi đốt dầu diesel có ưu điểm là công suất sinh hơi nằm trong khoảng rộng từ khoảng vài trăm kg hơi/giờ đến hàng trăm tấn hơi/giờ. Vì thế nó được ứng dụng cho nhu cầu sử dụng khác nhau từ các hệ với quy mô pilot đến quy mô công nghiệp. Nhiên liệu sinh học Nhiên liệu sinh học là một trong những loại nhiên liệu có nguồn gốc từ sinh khối, có thể dễ dàng tái tạo bằng các quá trình tự nhiên. Nhiên liêu sinh học bao gồm các loại sinh khối rắn, nhiên liệu lỏng và các loại gas sinh học.
Trong đó nổi bật và đang được sử dụng 5 nhiều nhất phải kể đến các loại như biocoal, bioete, biodiesel, khí tổng hợp…[11]. Biodiesel là hỗn hợp các alkyl este (thường dùng là methyl este) của axit béo mạch dài được sản xuất từ dầu thực vật hoặc mỡ động vật. Biodiesel là nhiên liệu dạng lỏng có tính chất vật lý tương tự như diesel có nguồn gốc từ dầu mỏ[12]. Biodiesel được đánh giá là có tính chất tương tự và có thể được sử dụng trực tiếp trong động cơ diesel mà không cần phải thay đổi cơ cấu động cơ [13].
Một số tính chất của biodiesel và diesel được trình bày trong bảng 1. Một số tính chất của diesel và biodiesel theo ASTM Diesel Biodiesel Tính chất (ASTM D975) (ASTM D6751) Khối lượng riêng (g/ml) 0,85 0,88 Điểm chớp cháy (K) 333 – 353 373 – 443 Điểm sương (K) 258 – 278 270 – 285 Điểm đông đặc (K) 243 – 258 258 – 289 Cặn cacbon (%kl) 87 77 Hàm lượng nước (%tt) 0,05 0,05 Trị số xê tan 40 – 55 48 – 60 Hàm lượng lưu huỳnh (%kl) 0,05 0,05 Hàm lượng oxy (%kl) 0 11 Hiện nay trên thế giới, nhu cầu sử dụng biodiesel liên tục tăng trong những năm gần đây, biodiesel thường được pha trộn vào diesel khoáng. Nhu cầu sử dụng phổ biến hiện nay là nhiên liệu diesel có chứa 5 – 30% biodiesel. Các phương pháp tổng hợp biodiesel Biodiesel thường được sản xuất từ các nguồn nguyên liệu như các loại dầu thực vật tinh luyện hoặc phế thải, hoặc mỡ động vật thông qua phản ứng este hóa chéo [14, 15].
Triglyceride thường chiếm khoảng 90 – 99% trong dầu thực vật. Phản ứng tổng hợp biodiesel từ nguyên liệu triglyceride và methanol diễn ra như sau: Sản phẩm của quá trình phản ứng bao gồm hỗn hợp của các methyl este, glycerol. Nguyên liệu dầu thực vật hoặc mỡ động vật để sản xuất biodiesel được phân loại dựa trên hàm lượng axit béo tự do (FFA) có trong nó [14]: - Dầu tinh luyện (FFA <1,5%) - Dầu phế thải và mỡ động vật có hàm lượng axit béo tự do thấp (FFA<4%) - Dầu và mỡ động vật có hàm lượng axit béo tự do cao (FFA>20%). Phương pháp siêu tới hạn: Biodiesel được tổng hợp trong điều kiện siêu tới hạn của methanol hoặc ethanol.
Quá trình xảy ra ở điều kiện nhiệt độ cao áp suất cao (trên 300oC, áp suất trên 200 atm) không cần sự có mặt của xúc tác.