CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1. GIỚI THIỆU VỀ PIN DEFC Cùng với sự phát triển của pin nhiên liệu sử dụng metanol trực tiếp, DMFC, pin nhiên liệu sử dụng ethanol trực tiếp, DEFC đang thu hút được sự quan tâm nghiên cứu trên thế giới. Sơ đồ nguyên lý hoạt động của pin DEFC được trình bày trong hình 1. Sơ đồ nguyên lý hoạt động của pin nhiên liệu DEFC Tương tự như pin DMFC, pin nhiên liệu DEFC cũng được tạo nên từ các phần cứng như khoang rỗng chứa nhiên liệu etanol, tấm đệm cuối (end plate), đệm kín khí, tấm thu dòng (current collectors), các tấm phân phối dòng etanol và dòng không khí (flow field plates), đệm kín khí và điện cực màng (MEA).
MEA có thể được chế tạo theo phương pháp đưa trực tiếp xúc tác lên màng điện ly hoặc theo phương pháp ép nóng màng điện ly với các tấm cathode và anode, trong đó xúc tác điện hóa được đưa lên từng điện cực riêng rẽ bằng cách phủ mực xúc tác lên vải carbon hoặc giấy carbon (hình 1. Cấu trúc các phần cứng của pin DEFC Hình 1. Các phương pháp chế tạo điện cực màng MEA (a) đưa xúc tác trực tiếp lên màng điện ly, (b) ép nóng màng điện ly với các điện cực đã phủ xúc tác Pin nhiên liệu DEFC có thể được phân chia thành hai loại khác nhau dựa vào loại màng trao đổi ion được sử dụng, đó là pin nhiên liệu sử dụng màng trao đổi proton (PEM) và dạng pin nhiên liệu kiềm (AEM) sử dụng màng trao đổi anion làm chất điện ly. QUÁ TRÌNH OXI HÓA ĐIỆN HÓA ETANOL TRONG PIN DEFC Quá trình oxi hóa điện hóa etanol có thể diễn ra một cách trực tiếp tạo thành sản phẩm cuối là CO2 hoặc diễn ra một cách gián tiếp tạo ra các sản phẩm như acetaldehyde (AAL), axit acetic.
Quá trình oxi hóa điện hóa etanol trên xúc tác Pt và PtSn đã được F. Vigier và cộng sự [7] nghiên cứu. Các tác giả đã sử dụng phương pháp insitu FT-IR để 5 nghiên cứu quá trình hình thành các hợp chất trung gian của phản ứng oxi hóa điện hóa etanol. Sản phẩm của phản ứng được nghiên cứu bằng phương pháp phổ HPLC.
Các hợp chất được xác định là COads, CH3COads, CH3CHO, CH3COOH, CO2. Quá trình hấp phụ etanol trên tâm Pt có thể diễn ra theo hai cách: Pt + CH3-CH2OH → Pt-(OCH2-CH3)ads + e− + H+ (1) Hoặc Pt + CH3-CH2OH → Pt-(CHOH-CH3)ads + e− + H+ (2) Đây là những bước đầu của quá trình hấp phụ và oxi hóa điện hóa etanol. Acetaldehyd được hình thành ở thế thấp hơn 0,6 V so với RHE (reversible hydrogen electrode) Pt-(OCH2-CH3)ads → Pt + CHO-CH3+ e− + H+ (3) Hoặc Pt-(CHOH-CH3)ads→ Pt + CHO-CH3+ e− + H+ (4) Ngay khi acetaldehyd được tạo thành, nó có thể bị hấp phụ trên các tâm Pt dẫn đến sự hình thành của các hợp chất trung gian dạng Pt-CH3CO ở điện thế thấp hơn 0,4V so với RHE: Pt + CHO-CH3→ Pt-(CO-CH3)ads + H+ +e− (5) Các kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra sự tồn tại của COads trên bề mặt Pt ở điện thế 0,3 V so với RHE. Iwasita cùng cộng sự [8] đã nhận thấy sự có mặt của vết CH4 ở khoảng thế thấp hơn 0,4 V so với RHE: Pt-(CO-CH3)ads + Pt → Pt-(CO)ads + Pt-CH3 (6) Pt-CH3 + Pt-H → 2Pt + CH4 (7) Tại khoảng thế lớn hơn 0,6 V so với RHE, sự phân ly của nước hấp phụ trên Pt cung cấp thêm các nhóm –OHads, có thể giúp oxi hóa các hợp chất trung gian của quá trình oxi hóa điện hóa etanol: Pt + H2O → Pt-(OH)ads + H+ +e− (8) Pt-(CO)ads + Pt-(OH)ads → 2Pt + CO2 + H+ +e− (9) CHO-CH3 + Pt-(OH)ads → Pt + CH3COOH + H+ +e− (10) 6 Đối với xúc tác PtSn, có thể kết luận rằng etanol chỉ hấp phụ trên các tâm Pt tương tự như những bước đầu tiên của quá trình oxi hóa trên xúc tác chỉ chứa Pt.
Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu cho thấy quá trình hấp phụ - phân ly etanol trên xúc tác PtSn để hình thành COads lại diễn ra ở thế thấp hơn so với xúc tác Pt, trong khoảng từ 0,1 V đến 0,3 V so với RHE, trong khi khoảng thế diễn ra phản ứng này trên xúc tác Pt là từ 0,3 V đến 0,4 V so với RHE. Do đó, có thể kết luận rằng các phản ứng (1) - (7) xảy ra ở thế rất thấp với tốc độ khá nhanh. Khi các hợp chất trung gian dạng Pt-CO-CH3 và Pt-CO được tạo thành, chúng có thể bị oxi hóa ở thế gần 0,3 V so với RHE. Cơ chế này cũng giải thích tại sao ở khoảng thế thấp xúc tác PtSn lại có hiệu suất hình thành sản phẩm acetic axit cao hơn so với xúc tác Pt (E < 0,35 V so với RHE).
Trong thực tế, các nhóm -OHads trên Sn có thể được dùng để oxi hóa -COads thành CO2 và oxi hóa –CO-CH3 thành CH3-COOH theo cơ chế lưỡng chức [9]. Do Sn có thể hoạt hóa nước ở giá trị thế thấp hơn so với Pt, một số nhóm OH có thể được hình thành ở khoảng thế thấp trên các tâm Sn theo phản ứng: Sn + H2O → Sn-(OH)ads + e− + H+ (11) Và các hợp chất dạng aldehyd đã hấp phụ trên tâm Pt có thể phản ứng với các nhóm OH đã hấp phụ trên tâm Sn sinh ra axit acetic theo phương trình: Pt-(CO-CH3)ads+ Sn-(OH)ads → Pt + Sn + CH3-COOH (12) Pt-(CO)ads + 2Sn-(OH)ads→ Pt + 2Sn + CO2 + H2O (13) S. Rousseau và cộng sự [10] đã nghiên cứu hoạt động của pin và phân bố sản phẩm của phản ứng oxi hóa điện hóa etanol trong pin DEFC với các xúc tác trên cơ sở Pt (Pt/C, PtSn/C và PtSnRu/C). Sản phẩm của phản ứng oxi hóa điện hóa etanol (dung dịch từ dòng thải anode) được phân tích bằng phương pháp HPLC.
Việc thêm Sn vào xúc tác Pt đã giúp nâng cao hoạt tính của xúc tác và cải thiện hoạt động của pin DEFC. Mật độ công suất cực đại của pin DEFC đối với các xúc tác Pt/C, PtSn/C lần lượt đạt giá trị vài mW.cm-2 lên 30 mW. Với xúc tác PtSn/C và PtSnRu/C, sự hình thành CO2 và acetaldehyd giảm đi, sự hình thành acetic axit tăng lên so với xúc tác Pt/C. Điều này có thể được giải thích theo cơ chế lưỡng chức [9], tại đó etanol có thể được hấp phụ một cách độc lập trên các tâm Pt 7 quá trình hấp phụ bởi nguyên tử O hoặc quá trình hấp phụ bởi nguyên tử C để hình thành các hợp chất trung gian dạng acetaldehyd như trong các phương trình phản ứng từ (1) tới (6).
Việc thêm Ru vào xúc tác PtSn/C chỉ có tác dụng làm tăng hoạt tính của xúc tác mà không làm thay đổi phân bố sản phẩm của phản ứng oxi hóa điện hóa etanol. Nghiên cứu của Waszczuk và đồng nghiệp [11] trong phản ứng oxi hóa metanol đã chỉ ra rằng, sự có mặt của Ru trong xúc tác trên cơ sở Pt không những cho phép cơ chế lưỡng chức xảy ra ở giá trị điện thế thấp mà còn có hiệu ứng “ligand”. Hiệu ứng này được giải thích bởi sự thay đổi phân bố electron xung quanh tâm hoạt tính Pt, làm tăng tốc độ hấp phụ etanol trên tâm Pt và khiến cho lượng chất phản ứng trên tâm hoạt tính tăng lên. Điều này khiến cho hoạt tính oxi hóa etanol của xúc tác tăng lên.
Nhóm nghiên cứu của A. Kowal và cộng sự [12] đã tổng hợp thành công xúc tác chứa 3 thành phần hoạt tính PtRhSnO2 mang trên C cho phản ứng oxi hóa điện hóa etanol trong môi trường axit. Các kết quả nghiên cứu cho thấy đối với xúc tác PtRhSnO2/C, Rh giúp tạo thành các hợp chất dạng *CH2CH2O, Pt đóng vai trò dehydro hóa. Hiệu ứng liên hợp giữa hai kim loại thúc đẩy quá trình bẻ gãy liên kết C-C theo chuỗi sau: *CH3CH2OH → *CH3CH2O + H* → → *CH2CH2O + 2H* → *CH2 + *CH2O + 2H* (14) Hầu hết các sản phẩm tạo thành đều có xu hướng hấp phụ trên Rh, trừ H*.
Quá trình oxi hóa điện hóa etanol trên xúc tác PtRhSnO2 (110) xảy ra thông qua sự hình thành hợp chất dạng oxametallacyclic (CH2CH2O) và sau đó bẻ gãy liên kết C- C ở mức năng lượng hợp lý 1,29 eV. Ngược lại, sự hình thành acetaldehyd lại không được thúc đẩy do mức năng lượng cao (0,66 eV) và năng lượng cần thiết để bẻ gãy liên kết C-C trong trường hợp này cũng cao (3,82 eV). Sản phẩm chính của phản ứng oxi hóa điện hóa etanol trên xúc tác này là CO2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU XÚC TÁC ANODE TRÊN CƠ SỞ Pt/G CHO PIN DEFC TRÊN THẾ GIỚI Để nâng cao hoạt tính điện hóa của xúc tác trên cơ sở Pt thì việc lựa chọn chất mang thích hợp giúp các tiểu phân kim loại phân tán một cách đồng đều trên bề chất mang, tránh hiện tượng kết tụ các tiểu phân này cũng là vấn đề quan trọng.
Với những tính chất hóa lý ưu việt như diện tích bề mặt riêng cao, độ dẫn điện, dẫn nhiệt rất cao, độ bền cơ, nhiệt rất cao, graphen (G) đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học như một loại chất mang xúc tác đầy tiềm năng. Hiện nay, xu hướng sử dụng xúc tác Pt/G trong phản ứng oxi hóa điện hóa etanol đang ngày càng tăng lên. Lifeng Dong và các đồng sự [13] đã nghiên cứu hệ xúc tác Pt-Ru trên chất mang graphen oxit đã khử. Tác giả đã tổng hợp hệ xúc bằng phương pháp tẩm ướt từ tiền chất của Pt, Ru cùng graphen oxit với chất khử là etylen glycol trong môi trường kiềm.
Kết quả đường quét thế tuần hoàn cho thấy với phản ứng oxi hóa điện hóa etanol, mật độ dòng cực đại đi là 16,2 mA.cm-2 và 13,8 mA.cm-2, tương ứng với hệ xúc tác Pt-Ru trên chất mang graphen và carbon black. Tỷ lệ mật độ dòng quét cực đại đi và về tương ứng với hai chất mang là 3,66 và 0,9. Khảo sát hoạt tính của xúc tác Pt-Ru/Graphen trong phản ứng oxi hóa điện hóa metanol, tác giả thu được mật độ cực đại của dòng quét đi là 19,1 mA.cm-2 và tỷ lệ mật độ dòng quét cực đại đi và về 6,25. Giá trị mật độ dòng của phản ứng oxi hóa etanol chỉ bằng 2/3 mật độ dòng tương ứng với metanol.
Chih-Chien Kung và các đồng sự [14] đã nghiên cứu và tổng hợp hệ xúc tác Pt-Ru trên ba loại chất mang khác nhau: Vulcan XC-72R carbon, graphen thương mại (Calverton, New York) và bọt graphen 3D được tổng hợp bằng phương pháp lắng đọng pha hơi hóa học – CVD từ khí metan trên nền niken. Kết quả cho thấy chất mang bọt graphen 3D (3D GF) cho kết quả bề mặt hoạt động điện hóa của xúc tác là cao nhất, đạt tới 186,2 m2.