Chương 1. Cơ sở lý luận về chính sách thúc đây ứng dụng công nghệ mô phỏng trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực phi công trực thăng: - Chương 2. Thực trạng chính sách ứng dụng công nghệ mô phỏng trong đảo tạo phi công tại Tổng Công ty trực thăng Việt Nam; - Chương 3. Khung chính sách thúc day ứng dụng công nghệ mô phỏng trong đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phi công trực thăng.
CƠ SO LY LUẬN VE CHÍNH SÁCH THUC BAY UNG DUNG CONG NGHE MO PHONG TRONG QUA TRINH DAO TAO PHI CONG TRUC THANG 1. Cac khái niệm cơ ban 1. Khái niệm chính sách “Chính sách” là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các công trình nghiên cứu, tài liệu và trên cả các phương tiện truyền thông. Có thể nhận thấy rằng, đối với mỗi lĩnh vực thì đều có các chính sách đi kèm.
Các chính sách chủ yếu đóng vai trò hoạch định mục tiêu cần hướng tới, đưa ra các lựa chọn dé giải quyết các van dé đang diễn ra trong hiện tại hoặc lường trước sẽ xảy ra. Trong bất kỳ lĩnh vực nào, chính sách đều đóng vai trò như một nguyên tắc chung để căn cứ xây dựng các nguyên tắc cụ thê hơn. Trích dich từ từ điển tiếng Anh (Oxford English Dictionary), chính sách được định nghĩa là một lỗi hành động được thông qua và theo đuổi bởi chính quyền, Đảng, nhà cai trị, chính khách,.Như vậy, cho thấy rằng chính sách không chỉ đơn thuần là một quyết định hay một con đường được lựa chọn mà nó là những quyết định hay hành động cụ thé. Theo Michael Hill (1977), The Policy Process in the Modern State, Smith cho rang: “Chính sách bao hàm.
sự lựa chon có chu định hành động hoặc không hành động, thay vì những tác động của những lực lượng có quan hệ với nhau”, nhắn mạnh “không hành động” cũng như “hành động” va nhắc nhở chúng ta rằng “sự quan tâm sẽ không chỉ tập trung vào các quyết định mà tạo ra sự thay đổi mà còn phải thận trọng với những quyết định chống lại sự thay đổi và khó quan sát bởi vì chúng không được tuyên bố trong quá trình hoạch định chính sách”. Theo Harold Lasswell, một nhà nghiên cứu chính trị người Mỹ, cho rằng chính sách là “thiết kế sự lựa chọn quan trọng nhất (đã) được làm ra (thực thi)” đối với các tổ chức, cũng như đời sống cá nhân. Anderson, chính sách là một tiến trình hành động có mục đích được thực hiện bởi các chủ thể nhăm giải quyết một vấn đề được quan tâm. 1975, Public policy-making, New York: Praeger) Theo Mark Considine, chính sách là một công việc được thực hiện liên tục, bởi những nhóm hoạch định, nhằm sử dụng các thể chế công dé kết nối, phối hợp và biểu dat giá trị họ theo đuổi.
(Nguồn: Considine, 1994, Public policy: A critical approach) Vũ Cao Dam (2011) xem chính sách là một thiết chế xã hội (social institution), trong đó thiết chế xã hội là một khái niệm xã hội học. Fichter (1971) “Chính sách là một phần của văn hóa, một đoạn đã được khuôn mẫu hóa trong nếp sông của một dân tộc”, “. chính sách được xem như những khuôn mẫu tác phong công khai và tiềm an tự biến thành những vai trò xã hội do những con người đảm nhiệm và nhiều loại tương quan khác nữa giữa những con người với nhau, đứng đầu những tương quan đó là những diễn tiến xã hội” Theo Wolf R (2013), trong tác phẩm Định nghĩa về phân tích chính sách đã nêu: “Chính sách công được hiểu là nguyên tắc hướng dẫn hành động của nhánh hành pháp (administrative executive branches) trong tổ chức nhà nước để giải quyết các vấn đề một cách phù hợp với các thiết chế pháp luật” (nguyên văn: “Public policy 1s the principled guide to action taken by the administrative executive branches of the state with regard to a class of issues in a manner consistent with law and institutional customs”) Theo Kilpatrick Dean (2000) quan niệm “Chính sách công được hiéu la hệ thống các biện pháp hành động, biện pháp quản lý, bang pháp luật nhằm ưu tiên giải quyết một chủ dé nhất định do một co quan chính phủ hoặc dai diện của họ tiên hành”. 13 Có thê nhận thấy nội dung chính sách cơ bản được cấu thành từ ba yếu tố: van dé thực tiễn cần giải quyết; định hướng, mục tiêu giải quyết van dé và các giải pháp Nhà nước đưa ra dé giải quyết các van dé theo mục tiêu đã xác định.
Vấn đề thực tiễn cần giải quyết là một điều đã hoặc đang diễn ra trong xã hội và có ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống, hoạt động của một hoặc một SỐ đối tượng hoặc tô chức, hoạt động của cơ quan nhà nước. Định hướng, mục tiêu giải quyết vấn đề là phương hướng và mức độ theo sự mong muốn của Nhà nước trong một khoảng thời gian tương ứng (thời gian ngắn hoặc lâu dài phụ thuộc vào mục tiêu ngắn hạn hay mục tiêu dài hạn) nhằm giảm thiểu hoặc xóa bỏ vấn đề thực tiễn. Giải pháp thực hiện chính sách là các phương án được đặt ra đề thực hiện hóa định hướng, mục tiêu đã xác định. Chính sách là một hệ thống nguyên tắc có chủ ý hướng dẫn các quyết định và đạt được các kết quả hợp lý; một trong các công cụ quan trọng trong công tác quản lý của Nhà nước.
Các chính sách được ban hành nhằm cụ thé hóa mục tiêu mà Nhà nước đã đặt ra và dé áp dụng vào đời sống xã hội dễ dàng hơn. Chính vì thế, các chính sách cần phải xác định được đâu là vấn đề cần giải quyết và mục tiêu hướng tới là gì nhằm đưa ra những biện pháp phù hợp và có tính kha thi. Căn cứ vào các dữ liệu trên, thuật ngữ chính sách được sử dung trong luận văn này được hiểu theo nghĩa sau: “Chính sách là một tập hợp các biện pháp được thể chế hóa do chủ thé quan lý dua ra, kích thích vào động cơ hoạt động của đối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức ”. Khái niệm công nghệ “Công nghệ” đã được sử dụng từ lâu, dần trở thành một phần không thê thiếu trong cuộc sống con người.
Ngày nay, trước sự phát triển không ngừng nghỉ thì khoa học công nghệ đã không chỉ còn đơn thuần là nghiên cứu mà đã thực tế hóa đi sâu vào đời sống nhân loại tạo ra nhiều sự thay đôi mới, mang diện mạo mới và ngày càng ứng dụng cụ thé hóa đời sống nhân loại theo xu thế hiện đại hóa. 14 Thuật ngữ này được bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp - “Techne Logos”. Trong đó, “Techne” có ý nghĩa là các kỹ năng, kỹ thuật cần thiết dé làm ra một cái gi đó và “Logos” mang ý nghĩa là tri thức về một sự vật, hiện tượng. Vì thế, khi kết hợp hai từ này thì “công nghệ” được mang hàm ý là kết quả được tạo ra bằng việc áp dụng các tri thức của con người trong thao tác kỹ thuật, cách thức hay phương pháp dé tạo ra một sản phâm nao đó.
Theo UNCTAD (1992), công nghệ là việc ap dung khoa học vào công nghiệp bằng cách xử lý một cách hệ thống và có phương pháp. Tù đây cho thấy công nghệ là tri thức của con người và phạm vi áp dụng công nghệ chỉ trong lĩnh vực công nghiệp mà không áp dụng sang các lĩnh vực khác. Merrill, R (1968) lại khang định công nghệ là tổng hợp các kỹ thuật thực hành, các kỹ năng của con người, kiến thức và trình tự thực hiện chúng vào những việc hữu ích. Jones, R (1970) định nghĩa công nghệ là cách thức, trong đó đầu vào là nguồn tài nguyên sẽ được chuyền đổi thành thương pham (commodities) ở đầu ra.
Theo Quốc hội (2017), công nghệ là một nguồn lực quyết định sự phát triển của nền kinh tế xã hội của mỗi Quốc gia. Ngày nay, công nghệ ngày càng có vai trò quyết định đến quá trình tăng trưởng kinh tế xã hội. Việc áp dụng thành công các thành tựu công nghệ đã làm cho lực lượng sản xuất có sự thay đôi về chất. Điều đó dẫn đến các tư liệu sản xuất truyền thong duoc thay thé thành các tư liệu sản xuất hiện đại dựa trên cơ sở kỹ thuật tin học và tự động hóa.
Cùng với đó, sự thay thé dan lao động cơ bắp và trở thành đặc trưng của thời đại. Vì thé, các ngành công nghệ cao đã và đang thể hiện vai trò hàng đầu của nó đối với toàn bộ nền kinh tế của mỗi quốc gia và cả thế giới. Tổng hợp các định nghĩa trên, thuật ngữ công nghệ được sử dụng trong luận văn được hiểu là giải pháp, quy trình, bí quyết có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng dé biến đôi nguồn lực thành sản phẩm. Khái niệm công nghệ mô phóng Mô phỏng (Simulation) là một hình thức bắt chước hoạt động của một quá trình hoặc một hệ thống.
Trong đó, “mô” được hiểu là mẫu và “phỏng” mang nghĩa là bắt chước theo. Như vậy, mô phỏng được hiểu là bắt chước làm theo một cái mẫu sẵn có. Theo Tổ chức nghiên cứu và công nghệ độc lập (TWI), mô phỏng là một mô hình bắt chước hoạt động của một hệ thống hiện có, cung cấp những lựa chọn được tạo ra dé có thê thử nghiệm những hoàn cảnh, tình huống thay đổi khác nhau. Mô phỏng có thé kết hợp với công nghệ thực tế để có trai nghiệm thực tiễn nhất.
Theo Waldrop (1992) lại khăng định khái niệm mô phỏng được hiểu là hình thái thứ ba của khoa học giữa lý thuyết và thực nghiệm. Simmson và Thompson (1994) đưa ra quan điểm mô phỏng là sự trình bày một cách ngắn gọn, đơn giản những yếu tố mau chốt, cơ bản nhất của một sự kiện, sự vật hoặc hiện tượng. Mô phỏng bắt chước các sự vật hoặc hiện tượng. Có thé nói, không dé dé đưa ra một định nghĩa chính xác cho thuật ngữ “mô phỏng”.
Từ những quan điểm về thuật ngữ “công nghệ” và “mô phỏng”, “công nghệ mô phỏng” có thể được hiểu là việc áp dụng kỹ thuật để tạo ra những mô hình bắt chước những hoàn cảnh, tình huống trên thực tế. Ngày nay công nghệ mô phỏng đã triển khai phổ biến ứng dụng thực tiễn vào nhiều ngành khoa học như toán, vật lý, mô hình hóa, tự động, điều khiển học. và đặc biệt là công nghệ thông tin. Đây được xác định là công cụ đa dạng và linh hoạt đặc biệt thích ứng với việc thử nghiệm, ứng dụng hữu ích đối với ngành giáo dục đảo tạo.