Chương 1: Cơ sá lý luận về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Tổng công ty may Bắc Giang LNG. Chương 3: Một sá giải pháp nâng chất lượng nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Tổng công ty may Bắc Giang LNG. 8 Ch°¢ng 1 C¡ Sî LÝ LU¾N VÀ NÂNG CAO CHÂT L¯ĀNG NGUâN NHÂN LĂC TRONG DOANH NGHIÞP 1.
Mét sá khái nißm liên quan 1. Nhân lực và nguồn nhân lực 1. Khái niệm nhân lực Thuật ngữ <nhân lực= đã xuất hiện từ rất lâu và có nhiều quan điểm khác nhau về nhân lực, cụ thể: Theo Hoàng Phê (2003) Từ điển Tiếng Việt thông dụng - NXB Giáo dục [15]: Nghĩa rộng: <Nhân lực là dân số sống trong một quốc gia, khu vực, địa phương, được đăng ký thường trú trên một địa phương nhất định=. Nghĩa hẹp: <Nhân lực là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động do pháp luật quy định độ tuổi tham gia vào quá trình lao động, sản xuất=.
Theo tổ chāc Lao động quác tế (ILO) đã chỉ ra nhân lực cÿa một quác gia là: <toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao động. Đây là một khái niệm để chỉ ra quy mô và tiềm lực của một quốc gia và đánh giá về khả năng tham gia hoạt động kinh tế để tạo ra tài sản cho xã hội của nhân lực trong quá trình sinh sống và xây dựng đất nước=[5]. Tổ chāc ngân hàng thế giới (WB) cho rằng: <Nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp…của mỗi cá nhân. Theo quan niệm này, nhân lực được coi như một nguồn vốn.Sự tham gia của nguồn vốn này trong quá trình sản xuất lại không giống như vốn bằng tiền, vốn công nghệ, tài nguyên.Nguồn vốn đặc biệt này được đặt bên cạnh các loại vốn kia nhưng để khai thác, duy trì và sử dụng các loại vốn vật chất đó= [5].
Theo Nguyễn Ngọc Quân, Giáo trình quản trị nhân lực xuất bản năm 2015 cÿa Nxb Đại học kinh tế Quác dân Hà Nội: <Nhân lực là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm thể lực và trí lực. Trong đó, thể lực chỉ sức khỏe của thân thể, trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, tiếp thu kiến thức, 9 tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách…của từng con người=[17]. Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quác Chánh, Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực (2012), trưßng Đại học Kinh tế quác dân Hà Nội: <nhân lực là sức lực của con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người có đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động=[2].
Tuy nhiên, khái niệm theo cách tiếp cận cÿa Nguyễn Ngọc Quân và là phổ biến hơn cả. Bái khái niệm này trình bày rõ ràng, dễ hiểu. Khái niệm cũng phân định rõ ràng 3 khía cạnh cÿa nhân lực là thể lực, trí lực và tâm lực. Chính vì vậy, với đề tài này tác giả đi theo hướng tiếp cận này.
Khái niệm nguồn nhân lực Khái niệm <nguồn nhân lực= được sử dụng từ những năm 60 cÿa thế kỷ XX á nhiều nước phương Tây và một sá nước Châu Á, và hiện nay đã khá thịnh hành trên thế giới dựa trên quan điểm mới về vai trò, vị trí cÿa con ngưßi trong sự phát triển. à nước ta, khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi kể từ đầu thập niên 90 cÿa thế kỷ XX đến nay. Các nghiên cāu gần đây, cho thấy quan niệm về nguồn nhân lực khá đa dạng, được đề cập từ nhiều góc độ khác nhau. Tiếp cận dưới góc độ ván, Ngân hàng thế giới định nghĩa <nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ vốn người (thể lực, trí tuệ, đạo đức nghề nghiệp) mà mỗi cá nhân sở hữu.
Nó trở thành yếu tố căn bản bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Tùy theo cách hiểu và cách tiếp cận khác nhau mà có cách nhìn nhận khác nhau về nguồn nhân lực. Theo góc độ vĩ mô thì nguồn nhân lực là dân sá trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Tổng cục Tháng kê khi tính toán nguồn nhân lực xã hội còn bao gồm cả những ngưßi ngoài tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quác dân.
à giác độ vi mô trong doanh nghiệp thì nguồn nhân lực là lực lượng lao động cÿa từng doanh 10 nghiệp, là sá ngưßi có trong danh sách cÿa doanh nghiệp do doanh nghiệp trả lương. <Nguồn nhân lực cÿa doanh nghiệp được hình thành trên cơ sá cÿa các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực do chính bản chất cÿa con ngưßi tạo nên. Nhân viên có các năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm hội, các tổ chāc công đoàn bảo vệ quyền lợi cÿa họ, có thể đánh giá và đặt câu hßi đái với hoạt động cÿa các quản trị gia, hành vi cÿa họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động cÿa môi trưßng xung quanh= (Lâm Trạch Viên, 2004).
Từ hai giác độ vĩ mô và vi mô cho thấy nguồn nhân lực là tất cả các tiềm năng cÿa con ngưßi trong doanh nghiệp. Tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thāc, khả năng, hành vi āng xử và giá trị đạo đāc để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp. Nguồn nhân lực bao gồm kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ đào tạo và những sự tận tâm, nỗ lực hay bất cā đặc điểm nào khác tạo giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp cÿa những ngưßi lao động. Do đó đầu tư cho con ngưßi là đầu tư quan trọng nhất trong các loại đầu tư và được coi là cơ sá vững chắc cho sự phát triển bền vững cÿa doanh nghiệp.
Theo giáo trình Nguồn nhân lực, Trưßng Đại học Lao động Xã hội: <Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước= [20]. Quan niệm này xem xét nguồn lực con ngưßi chÿ yếu á phương diện chất lượng con ngưßi và vai trò, sāc mạnh cÿa nó đái với sự phát triển xã hội. Theo ý kiến cÿa các nhà khoa học tham gia chương trình khoa học - công nghệ cấp Nhà nước, mã sá KX - 07 <Con ngưßi Việt Nam - mục tiêu và động lực cÿa sự phát triển kinh tế - xã hội= do Giáo sư, Tiến sỹ khoa học Phạm Minh Hạc làm chÿ nhiệm, cho rằng <nguồn lực con người được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất= [9]. 11 Trong cuán <Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam= (2005), Nxb Lý luận chính trị, tác giả Đoàn Văn Khái cho rằng: <Nguồn lực con người là khái niệm chỉ số dân, cơ cấu dân số và nhất là chất lượng con người với tất cả đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội= [12].
Ngoài ra còn một sá quan điểm cÿa các tác giả khác về nguồn nhân lực. Nhưng nhìn chung các quan niệm đều tháng nhất nội dung cơ bản như sau: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sāc lao động cho xã hội, là yếu tá cấu thành lực lượng sản xuất, giữ vai trò quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội cÿa mọi quác gia. Như vậy, nguồn nhân lực (NNL) trước hết phải hiểu đó là toàn bộ những ngưßi lao động đang có khả năng tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội và các thế hệ những ngưßi lao động tiếp tục tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế xã hội. NNL bao gồm một tổng thể các yếu tá thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, thái độ và phong cách làm việc.
Đó chính là các yếu tá thuộc về chất lượng NNL. Ngoài ra NNL còn đề cập đến cơ cấu nguồn nhân lực bao gồm cả cơ cấu đào tạo và cơ cấu ngành nghề. Khi nói đến NNL cần nhấn mạnh sự phát triển trí tuệ, thể lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ cÿa con ngưßi, kinh nghiệm sáng, năng lực hiểu biết thực tiễn, đạo đāc và nhân cách cÿa con ngưßi. Yếu tá trí lực là yếu tá ngày càng đóng vai trò quyết định sự phát triển nguồn nhân lực.
Tóm lại, NNL tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại trong lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước. Chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Theo từ điển Tiếng Việt: Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị cÿa một sự vật, sự việc [15]. 12 Nhân lực cÿa doanh nghiệp không chỉ được xem xét dưới góc độ sá lượng mà còn á khía cạnh chất lượng. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về chất lượng nhân lực (CLNL), cụ thể: Theo Nguyễn Tiệp thì <Chất lượng nhân lực là trạng thái nhất định của nhân lực, là tố chất, bản chất bên trong của nhân lực, nó luôn có sự vận động và phản ánh trình độ phát triển kinh tế xã hội cũng như mức sống, dân trí của dân cư= [20].
CLNL thể hiện á các mặt sau: Sāc khße; Trình độ văn hóa; Trình độ chuyên môn - kỹ thuật; Năng lực thực tế về tri thāc, kỹ năng nghề nghiệp; Tính năng động xã hội (khả năng sáng tạo, thích āng, linh hoạt, nhanh nhạy với công việc); Phẩm chất đạo đāc, tác phong, thái độ đái với công việc và môi trưßng làm việc cÿa ngưßi lao động; Hiệu quả hoạt động lao động cÿa nguồn nhân lực; Thu nhập, māc sáng và māc độ thßa mãn nhu cầu cá nhân cÿa ngưßi lao động (NLĐ). Còn theo quan điểm Trần Xuân Cầu và Mai Quác Chánh thì chất lượng nhân lực được hiểu như sau: <Chất lượng nhân lực là trạng thái nhất định của nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nhân lực= [2].