CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC CỦA CƠ QUAN NHÀ NƯỚC 1.1 Các khái niệm cơ bản về chất lượng nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm về nguồn nhân lực 1.1 Nhân lực Thuật ngữ nhân lực hay nguồn nhân lực đã xuất hiện từ rất lâu từ những thập niên 80 của thế kỷ XX khi các phương thức quản lý đã có sự thay đổi về quan điểm, việc sử dụng con người hay nguồn nhân lực đã giúp cho việc quản lý nguồn nhân lực có tính linh hoạt, mềm dẻo giúp cho con người có thể phát huy các tiểm năng ở mức cao nhất. Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người gồm có thể lực, trí lực và nhân cách [4]. Trong định nghĩa trên nguồn nhân lực của một tổ chức được mang đầy đủ các yếu tố về chất lượng cũng như số lượng. Khi nói đến số lượng của nguồn nhân lực thì nó được thể hiện bằng quy mô và sự phát triển của một tổ chức thì yếu tố chất lượng chất lượng sẽ mang tính tổng hợp từ đã yếu tố và biểu hiện từ mỗi một cá nhân thể hiện bằng thể lực, trí lực, nhân cách của mỗi con người trong tổ chức.
Thể lực được định nghĩa là sức khoẻ của nguồn nhân lực của cơ quan; hình thành từ các yếu tố về: Sức vóc, tình trạng sức khoẻ của từng người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế, tuổi tác, thời gian công tác, giới tính. Thể lực đóng vai trò quan trọng là nó như phần móng của căn nhà, nền móng có chắc thì nhà mới vững được. Vì vậy, nhân lực có được thể lực tốt thì sẽ là tiền đề cho sự phát triển của con người để duy trì và phát triển của mỗi cá nhân cũng như nguồn nhân lực của tổ chức. Trí lực được hiểu là sự nhìn nhận, nhận thức, sự hiểu biết, năng lực về trí tuệ, trình độ chuyên môn, các kỹ năng làm việc của con người đối với sự vật, sự việc, các yếu tố tiềm năng, năng khiếu.
Yếu tố trí lực được rèn luyện, luyện tập, tổng hợp thông qua quá trình học tập, tiếp thu được những kinh nhiệm của người khác học tự bản thân mình rút ra được kinh nghiệm là quá trình phấn đấu, tu dưỡng của mỗi cá nhân trong tổ chức. 6 Nhân cách là giá trị, quan điểm sống của người lao động là đạo đức, tác phong, tính kỷ luật, sự năng động, tính kỷ luật, khả năng làm việc theo nhóm, tinh thần và trách nhiệm đối với công việc được giao. Nếu vận dung tốt các tính năng này trong hoạt động thực tiễn giúp ích cho việc nâng cao năng lực sáng tạo, thể hiện tốt các quan hệ xã hội, nâng cao được hiệu suất, hiệu quả trong công việc.2 Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét là động lực cho sự phát triển được thể hiện bởi tính quy mô về số lượng của một tổ chức. Với nền tảng khái niệm về nhân lực, cho tới nay đã có nhiều nhận định, quan điểm khác nhau về nguồn lực con người.
Quan điểm của nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (tiềm năng lao động cơ bản) các tiềm năng này được vận dụng trong quá trình quản lý, sử dụng và được đánh giá cao, nguồn nhân lực được tập hợp bởi các yếu tố về: thể lực, trí lực, nhân cách của con người để đáp ứng các yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định. Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực [4]. Nguồn nhân lực được xác định bằng số lượng người trong độ tuổi lao động sẵn sàng tham gia lao động. Năng lực xã hội của lao động phản ánh chất lượng nguồn nhân lực thông qua: Trình độ, kiến thức, thể chất, kỹ năng, thái độ làm việc.
Nguồn nhân lực được phản ánh qua tiềm năng lao động của con người là sự dung hòa bởi các mặt trí lực, thể lực, phẩm cách, nhân cách… của nguồn nhân lực. Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế. Thể lực con người còn tùy thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính… Trí lực ngày càng đóng vai trò quyết định trong sự phát triển nguồn nhân lực, song sức mạnh trí tuệ của con người chỉ có thể phát huy được lợi thế trên nền tảng thể lực khoẻ mạnh. Chăm sóc sức khoẻ là một nhiệm vụ rất cơ bản để nâng cao chất lượng 7 nguồn nhân lực, tạo tiền đề phát huy hiệu quả tiềm năng của con người.
Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách… của từng con người. Sự khai thác các tiềm năng về trí lực của con người mới còn ở mức mới mẻ, chưa bao giờ cạn kiệt, vì đây là kho tàng còn nhiều bí ẩn của mỗi con người. Chính vì thế, trí lực được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu của nguồn lực con người bởi tất cả những gì thúc đẩy con người hành động phải thông qua đầu óc của họ. Khai thác và phát huy tiềm năng trí lực trở thành yêu cầu quan trọng nhất của việc phát huy nguồn lực con người.
Nguồn nhân lực trong tổ chức đóng vai trò hết sức quan trọng, vừa là động lực vừa là mục tiêu cho sự phát triển của tổ chức, là nhân tố quyết định nên sự thành bại trong kinh doanh [4]. Mục tiêu chung của việc phát triển nguồn nhân lực là giúp cho người lao động nâng cao trình độ và kỹ năng của mình trong việc hiện tại, giúp cho người lao động thực hiện có hiệu quả hơn chức năng và nhiệm vụ của mình đồng thời mở ra cho họ những bước phát triển mới trong tương lai. Trên cơ sở đó giúp cho doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh một cách bền vững và nâng cao lợi ích cho người lao động [5]. Việc xác định rõ mục tiêu giúp cho người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn về nghề nghiệp của mình và thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình một cách thành thạo hơn và có trách nhiệm hơn; nâng cao khả năng thích ứng với sự thay đổi công việc trong tương lai; nâng cao khả năng tiếp thu và ứng dụng các công nghệ mới trong sản xuất; nâng cao lợi ích tối ưu cho doanh nghiệp và người lao động.2 Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực “Chất lượng nguồn nhân lực là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu cũng như thỏa mãn cao nhất nhu cầu của người lao động” [1].
Nguồn nhân lực mang bản chất con người có những đặc tính riêng với những năng lực cần sáng tạo, có những nhu cầu, động cơ, đặc điểm cá nhân khác nhau nên có xu hướng hình thành các hội, các tổ chức công đoàn để bảo vệ các quyền lợi cho người lao động. Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực ngoài việc người lao động có thể đáp ứng được những điều 8 kiện của tổ chức thì đòi hỏi tổ chức phải tạo được môi trường làm việc cho người lao động nhằm đặt được sự cân bằng giữa cả hai bên. “Chất lượng nguồn nhân lực gồm trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội” [4]. Trong đó: thể lực của nguồn nhân lực gồm sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần; Trí lực của nguồn nhân lực gồm trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động thực hành của người lao động; Phẩm chất tâm lý xã hội gồm kỷ luật, tự giác, có tinh thần hợp tác và tác phong công nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là quá trình cơ quan trang bị cho người lao động các kỹ năng, kiến thức về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để họ có thể hoàn thành các nhiệm vụ, công việc được giao. Để làm tốt công tác này, người làm công tác phát triển nguồn nhân lực phải có sự hiểu biết về năng lực của mỗi cá nhân người lao động. Năng lực nguồn nhân lực là sự hiểu biết, kiến thức, hành vi của con người ứng với mỗi mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là quá trình tạo lập và phát triển năng lực toàn diện của người lao động vì sự phát triển của doanh nghiệp và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người gồm: Giáo dục, đào tạo và phát triển.
Nâng cao là quá trình biến đổi, hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là quá trình chuẩn bị và cung cấp những năng lực cần thiết cho tổ chức trong tương lai. Nói tóm lại, “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là quá trình tạo lập và phát triển năng lực toàn diện của con người vì sự tiến bộ kinh tế, xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người” [4].3 Vai trò của chất lượng nguồn nhân lực 1.1 Đối với xã hội Sự phát triển của đất nước phụ thuộc bởi nhiều yếu tố như: con người, khoa học công 9 nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Trong đó, yếu tố con người là quan trọng nhất.
Con người được xem là trung tâm của mọi sự vận động và phát triển. Một đất nước có khoa học kỹ thuật hiện đại, có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú thì sẽ tạo điều kiện lớn để phát triển nền kinh tế. Nhưng con người sẽ là người phát minh, vận hành và cải tạo các khoa học công nghệ đó. Bởi vậy con người cần có trình độ cao áp dụng các khoa học công nghệ hiện đại để đem lại các bước đột phá.
Quốc gia nào có nguồn lực về con người mạnh thì nền kinh tế tại quốc gia đó rất phát triển khi khoa học kỹ thuật hiện đại, quốc gia đó sẽ có khả năng tìm ra các nguồn nhiên liệu mới thay thế cho các nguồn nguyên liệu sẵn có trong tự nhiên.