phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Tháng 8. Chƣơng 3: Giải pháp Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Tháng 8. 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Các khái niệm liên quan 1. Nhân lực Nhân lực chính là sức lực nằm trong mỗi con ngƣời, để con ngƣời có thể hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con ngƣời. Cho đến một mức độ nào đó, con ngƣời đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động hay còn gọi là con ngƣời có sức lao động.
Nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực của mỗi con ngƣời. Nguồn lực này bao gồm trí lực, thể lực và nhân cách. Nhân lực theo nghĩa đen chỉ là sức ngƣời, sức ngƣời bao hàm cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần. Nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con ngƣời trong một tổ chức hay xã hội ( ể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng iến thức, hả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp.
Nguồn nhân lực Theo tác giả Nguyễn Tiệp: Nguồn nhân lực (human resources): Là nguồn lực con ngƣời, quan trọng, năng động nhất của tăng trƣởng và phát triển inh tế - xã hội. Nguồn nhân lực có thể xác định cho một quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phƣơng (tỉnh, thành phố.) và nó hác với các nguồn lực hác (tài chính, đất đai, công nghệ.) ở chỗ nguồn lực con ngƣời với hoạt động lao động sáng tạo, tác động vào thế giới tự nhiên, biến đổi giới tự nhiên và trong quá trình lao động nảy sinh các quan hệ lao động và quan hệ xã hội. Cụ thể hơn, nguồn nhân lực của một quốc gia biểu hiện ở các hía cạnh sau đây: 10 Trƣớc hết với tƣ cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, ở nghĩa rộng nhất thì nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cƣ có hả năng lao động, hông phân biệt ngƣời đó đang đƣợc phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, hu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội. - Với tƣ cách là hả năng đảm đƣơng lao động chính của xã hội thì nguồn nhân lực đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động có hả năng lao động (do pháp luật lao động quy định).
Hiện nay, trong lĩnh vực lao động còn có hái niệm nguồn lao động” là toàn bộ dân số trong độ tuổi lao động có hả năng lao động. Do đó, với hái niệm này thì nguồn nhân lực tƣơng đƣơng với hái niệm nguồn lao động. Nguồn nhân lực thể hiện toàn bộ những con ngƣời cụ thể tham gia vào quá trình lao động, với cách hiểu này nguồn nhân lực bao gồm những ngƣời từ giới hạn dƣới của độ tuổi lao động trở lên và có hả năng lao động (ở nƣớc ta hiện nay là những ngƣời đủ 15 tuổi trở lên có hả năng lao động). Nhƣ vậy, mặc dù có các biểu hiện hác nhau nhƣng nguồn nhân lực một quốc gia phản ánh các đặc điểm quan trọng nhất sau đây: + Nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời; + Nguồn nhân lực là bộ phận của dân số, gắn với cung lao động; + Nguồn nhân lực phản ánh hả năng lao động của một xã hội.
Chất lượng nguồn nhân lực Từ thực tiễn inh doanh cho thấy rằng: Để đảm bảo năng suất cao, giá thành hạ và tăng lợi nhuận các nhà sản xuất hông còn con đƣờng nào hác là dành mọi ƣu tiên hàng đầu cho chất lƣợng. Chất lƣợng là chìa hóa đem lại phồn vinh, sự phát triển bền vững cho các doanh nghiệp và các quốc gia thông qua việc chiếm lĩnh thị trƣờng phát triển inh tế. Chất lƣợng nguồn nhân lực biểu hiện ở thể lực, trí lực, tinh thần thái độ, động cơ, ý thức lao động. Trong ba mặt thể lực, trí lực, tinh thần thì thể 11 lực là nền tảng, cơ sở để phát triển trí lực, là phƣơng thức để chuyển tải hoa học ỹ thuật vào thực tiễn.
Trí tuệ là yếu tố có vai trò quan trọng hàng đầu của nguồn nhân lực, bởi có nó con ngƣời mới có thể nghiên cứu sáng tạo và ứng dụng tiến bộ hoa học vào quá trình hoạt động sản xuất và cải tiến xã hội. Với các cách hiểu hác nhau về chất lƣợng nguồn nhân lực, nhƣng nhìn chung lại thì chất lƣợng nguồn nhân lực là một hái niệm tổng hợp, bao gồm những nét đặc trƣng về trạng thái thể lực, trí lực, đạo đức và phẩm chất. Nó thể hiện trạng thái nhất định của nguồn nhân lực với tƣ cách vừa là một hách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi hoạt động inh tế và các quan hệ xã hội. Trong đó: - Thể lực của con ngƣời chịu ảnh hƣởng của mức sống vật chất, sự chăm sóc sức khỏe và rèn luyện của từng cá nhân cụ thể.
Một cơ thể khỏe mạnh, thích nghi với môi trƣờng sống thì năng lƣợng do nó sinh ra sẽ đáp ứng yêu cầu của một hoạt động cụ thể nào đó. Thể lực có ý nghĩa quan trọng quyết định năng lực hoạt động của con ngƣời. Phải có thể lực con ngƣời mới có thể phát triển trí tuệ và quan hệ của mình trong xã hội. - Trí lực đƣợc xác định bởi tri thức chung về khoa học, trình độ kiến thức chuyên môn, kỹ năng inh nghiệm làm việc và khả năng tƣ duy xét đoán của mỗi con ngƣời.
Trí lực thực tế là một hệ thống thông tin đã đƣợc xử lý và lƣu giữ lại trong bộ nhớ của mỗi cá nhân con ngƣời, đƣợc thực hiện qua nhiều ênh hác nhau. Nó đƣợc hình thành và phát triển thông qua giáo dục đào tạo cũng nhƣ quá trình lao động sản xuất. - Tâm lực là những đặc điểm quan trọng trong yếu tố xã hội của nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ những tình cảm, tập quán phong cách, thói quen, quan niệm, truyền thống, các hình thái tƣ tƣởng, đạo đức và nghệ thuật., gắn liền với truyền thống văn hóa. 12 Chất lƣợng nguồn nhân lực thể hiện ở các mặt sau: - Sức hỏe; - Trình độ văn hóa; - Trình độ chuyên môn – ỹ thuật; - Năng lực thực tế về tri thức, ỹ năng nghề nghiệp; - Tính năng động xã hội ( hả năng sáng tạo, thích ứng, linh hoạt, nhanh nhạy với công việc; - Phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ đối với công việc và môi trƣờng làm việc; - Hiệu quả hoạt động lao động của nguồn nhân lực; - Thu nhập, mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân của ngƣời lao động.
Theo tác giả Nguyễn Tiệp thì “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, là tố chất, bản chất bên trong của nguồn nhân lực, nó luôn có sự vận động và phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như mức sống, dân trí của dân cư.”[15, tr10] Theo tác giả Mai Quốc Chánh và tác giả Trần Xuân Cầu , chất lƣợng nguồn nhân lực có thể đƣợc hiểu nhƣ sau: “Chất lƣợng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực” [1, tr.18] Theo tác giả Vũ Thị Mai chất lƣợng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là: “mức độ đáp ứng về hả năng làm việc của NLĐ với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu cũng nhƣ thỏa mãn cao nhất nhu cầu của ngƣời lao động” [11, tr.105] Trong luận văn này chất lƣợng nguồn nhân lực đƣợc hiểu nhƣ sau: “Chất lƣợng nguồn nhân lực là toàn bộ năng lực của lực lƣợng lao động đƣợc biểu hiện thông qua ba mặt: Thể lực, trí lực, tâm lực. Tất cả các mặt này có 13 quan hệ chặt chẽ với nhau cấu thành nên chất lƣợng nguồn nhân lực. Trong đó cả 3 yếu tố: thể lực, trí lực và tâm lực đều là yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực”. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Theo tác giả Vũ Bá Thể thì nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phƣơng pháp, chính sách, giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lƣợng từng ngƣời lao động (trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội) đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển inh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển.55] Một nền inh tế muốn tăng trƣởng nhanh và bền vũng cần dựa vào ba yếu tố là áp dụng công nghệ mới, phát triển cơ cấu hạ tầng hiện đại và nâng cao chất lƣợng NNL.
Trong giai đoạn phát triển nền inh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa hiện nay, chúng ta ngày càng nhận thức rõ vai trò quyết định của NNL, nhất là NNL chất lƣợng cao vốn là yếu tố quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp phát triển bền vững và hội nhập thành công vào nền inh tế quốc tế. Nâng cao chất lƣợng NNL chính là sự tăng cƣờng sức mạnh và ỹ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất và năng lực tinh thần của lực lƣợng lao động lên đến một trình độ nhất định để lực lƣợng này có thể hoàn thành đƣợc nhiệm vụ phát triển inh tế - xã hội trong một giai đoạn phát triển nhất định của một quốc gia, một doanh nghiệp. Do đó, chất lƣợng NNL chính là động lực trực tiếp cho sự phát triển inh tế - xã hội. Thông qua chất lƣợng NNL, thể hiện rõ trình độ phát triển inh tế - xã hội của mỗi quốc gia, chất lƣợng cuộc sống của dân cƣ hay mức độ văn minh của một xã hội.
Nâng cao chất lƣợng NNL là gia tăng giá trị con ngƣời, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng nhƣ ỹ năng nghề nghiệp, làm 14 cho NLĐ có những năng lực và phẩm chất mới cao hơn, hoàn thành tốt hơn mục tiêu của tổ chức và của chính bản thân họ.