Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại công ty Cổ phần xây dựng thương mại An Xuân Thịnh. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại công ty Cổ phần xây dựng thương mại An Xuân Thịnh. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm có liên quan 1.
Nhân lực Nhân lực đƣợc hiểu là toàn bộ khả năng về thể lực và trí lực của con ngƣời đƣợc vận dụng trong quá trình lao động sản xuất. Nó cũng đƣợc xem là sức lao động của con ngƣời - một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố sản xuất của các tổ chức [7, tr. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực (Human Resource) là nguồn lực con ngƣời, là yếu tố cấu thành quan trọng của lực lƣợng sản xuất xã hội, quyết định sức mạnh của một quốc gia, một ngành kinh tế hoặc một địa phƣơng. Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực.
Theo Cơ quan phát triển của Liên hiệp quốc UNDP: "Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con ngƣời có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nƣớc". Theo quy định của Tổng cục thống kê nguồn nhân lực bao gồm những ngƣời đủ 15 tuổi trở lên có việc làm (lao động đang làm việc) và những ngƣời trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhƣng đang ở trong các tình trạng sau đây: đang thất nghiệp; đang đi học; đang làm nội trợ trong gia đình mình; không có nhu cầu làm việc; những ngƣời thuộc tình trạng khác chƣa tham gia lao động. Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những ngƣời trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực đƣợc hiểu theo hai nghĩa: theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là 9 nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con ngƣời cho sự phát triển; theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế -xã hội, bao gồm các nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào các quá trình lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân có thể tham gia quá trình lao động.
Nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời. Nguồn lực đó đƣợc xem xét ở hai khía cạnh. Trƣớc hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con ngƣời, đó cũng là sự khác nhau cơ ản giữa nguồn lực con ngƣời và các nguồn lực khác.
Thứ hai, nguồn nhân lực đƣợc hiểu là tổng thể nguồn lực của từng cá nhân con ngƣời. Với tƣ cách là một nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội đƣợc biểu hiện ra là số lƣợng và chất lƣợng nhất định tại một thời điểm nhất định. Nhƣ vậy, xem xét dƣới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhƣng những khái niệm này đều thống nhất các nội dung cơ ản sau: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Con ngƣời với tƣ cách là yếu tố cấu thành lực lƣợng sản xuất, giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ ản và nguồn lực vô tận của sự phát triển, không thể chỉ đƣợc xem xét đơn thuần ở góc độ số lƣợng hay chất lƣợng mà là sự tổng hợp của cả số lƣợng và chất lƣợng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con ngƣời với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội.
Với tƣ cách là tiềm năng lao động của mỗi vùng, miền hay quốc gia thì nguồn nhân lực là tài nguyên cơ ản nhất. Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lƣợng lao động của từng doanh nghiệp, là số ngƣời có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lƣơng” [4, tr. “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những ngƣời lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực của mỗi con ngƣời mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực” [5, tr. Trong mỗi doanh nghiệp, nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực quyết định đối với sự phát triển cả về trƣớc mắt lẫn lâu dài của doanh nghiệp, đối với sự tăng trƣởng kinh tế - xã hội của quốc gia.
Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực là việc tạo nền tảng cho tăng trƣởng bền vững về hiệu năng của mỗi ngƣời lao động vào hiệu quả chung của doanh nghiệp, gắn liền việc thực hiện tốt các chức năng và công cụ quản lý nhằm có đƣợc một đội ngũ lao động phù hợp về mặt số lƣợng và có chất lƣợng cao, thông qua hoạt động của họ mà không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất, là động lực cơ bản cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Chất lượng nguồn nhân lực Chất lƣợng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, là tố chất, bản chất bên trong của nguồn nhân lực, nó luôn có sự vận động và phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng nhƣ mức sống của dân cƣ [2, tr. Chất lƣợng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp về những ngƣời thuộc NNL đƣợc thể hiện ở các mặt sau đây: sức khỏe của ngƣời lao động, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kĩ thuật, năng lực thực tế về tri thức, kĩ năng nghề nghiệp, tính năng động xã hội, phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ đối với công việc, môi trƣờng làm việc, hiệu quả hoạt động lao động của 11 NNL và thu nhập mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân (gồm nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của ngƣời lao động” [15, Tr9]. Chất lƣợng nguồn nhân lực là tổng thể về trí lực, thể lực và khí lực (tinh thần, ý thức xã hội) của một tập hợp nhóm có nhiều ngƣời, trong mối tƣơng quan với khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển bản thân con ngƣời và phát triển kinh tế - xã hội, những năng lực này đƣợc phát triển thông qua các hoạt động chăm sóc sức khỏe, giáo dục, đào tạo nghề nghiệp trong quá trình lao động [5, tr.
Chất lƣợng nguồn nhân lực đƣợc xem xét trên các mặt: trình độ sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất [4, tr. Chất lƣợng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. Đó là các yếu tố phản ánh trình độ kiến thức, kỹ năng và thái độ của ngƣời lao động trong quá trình làm việc. Chất lƣợng nguồn nhân lực không những là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế về mặt đời sống xã hội, bởi lẽ chất lƣợng nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ hơn với tƣ cách không chỉ là nguồn lực của sự phát triển mà còn thể hiện mức độ văn minh của một xã hội nhất định.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phƣơng pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lƣợng từng con ngƣời lao động (trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý - xã hội) đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực chính là sự tăng cƣờng sức mạnh và kỹ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất và năng lực tinh thần của lực lƣợng lao động lên đến một trình độ nhất định để lực lƣợng này có thể 12 hoàn thành đƣợc nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong một giai đoạn phát triển nhất định của một quốc gia, một doanh nghiệp. Do đó, chất lƣợng nguồn nhân lực chính là động lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Thông qua chất lƣợng nguồn nhân lực thể hiện rõ trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, chất lƣợng cuộc sống của dân cƣ hay mức độ văn minh của một xã hội.
Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực là tạo ra tiềm năng của con ngƣời thông qua đào tạo, bồi dƣỡng, tự bồi dƣỡng và đào tạo lại, chăm sóc sức khoẻ về thể lực và tinh thần, khai thác tối đa tiềm năng đó trong các hoạt động lao động thông qua việc tuyển dụng, sử dụng, tạo điều kiện về môi trƣờng làm việc (phƣơng tiện lao động và các chế độ chính sách hợp lý,.), môi trƣờng văn hoá, xã hội nhằm kích thích động cơ, thái độ làm việc của ngƣời lao động để họ mang hết sức mình hoàn thành các chức trách, nhiệm vụ đƣợc giao. Để phát triển nhanh và bền vững, mỗi doanh nghiệp cần phải nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực và có chính sách phát huy tối đa nguồn nhân lực đó. Việc quản lý và sử dụng hợp lý nguồn nhân lực sau khi đã đƣợc đào tạo phù hợp với năng lực của mỗi cá nhân phục vụ cho các công việc cụ thể là nhân tố quyết định dẫn đến thành công của doanh nghiệp. Từ những luận điểm trên, có thể hiểu: Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp chính là nâng cao mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của ngƣời lao động trên các phƣơng diện về thể lực, trí lực, tâm lực so với yêu cầu công việc cụ thể nhằm đạt đƣợc mục tiêu của doanh nghiệp.
Các tiêu chí đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1. Thể lực của nguồn nhân lực Nói đến thể lực là nói đến trạng thái sức khoẻ của ngƣời lao động. Sức khoẻ là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần chứ không 13 chỉ không có bệnh tật hay thƣơng tật. Là tổng hoà nhiều yếu tố tạo nên giữa ên trong và ên ngoài cơ thể, giữa thể chất và tinh thần con ngƣời.
Thể lực của ngƣời lao động đƣợc hình thành, duy trì và phát triển bởi chế độ dinh dƣỡng, chế độ chăm sóc sức khoẻ, tinh thần.