Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC CÁN BỘ CÔNG CHỨC KHỐI ĐẢNG – ĐOÀN THỂ 1. Nguồn nhân lực và chất lượng NNL CBCC trong khối Đảng – Đoàn thể cấp Huyện 1. Khái niệm nhân lực và nguồn nhân lực - Khái niệm nhân lực. Khi nhắc đến “nhân lực” là nhắc đến “con người”.
Hiện nay có rất nhiều quan điểm nhắc tới nhân lực như: Theo tác giả Trần Xuân Cầu (2019), có đưa ra khái niệm: “nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động”. Theo tác giả Hoàng Văn Hải & Vũ Thùy Dương (2010), đã đề cập rằng “nhân lực là một nguồn lực quan trọng của mọi tổ chức. Trong doanh nghiệp, mỗi một người lao động đều được giao đảm nhận những công việc nhất định và có chức danh nhất định”.
Từ những quan điểm trên, tác giả thống nhất quan điểm “nhân lực là khả năng mà cá nhân sử dụng vào quá trình hoạt động, bao gồm số lượng các cá nhân, cũng như tất cả các tiềm năng của mỗi cá nhân sẵn sàng tham gia hoạt động. Hay có thể hiểu theo một cách khác, nhân lực là tổng hợp các cá nhân cùng kiến thức, kỹ năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức của họ để thành lập, duy trì, đóng góp cho sự phát triển của một tổ chức, của một xã hội bất kỳ”. - Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nguồn lực thuộc về con người, được xem xét ở nhiều ý nghĩa nhưng chủ yếu là hai ý nghĩa chính. Đầu tiên, NNL được xem xét với ý nghĩa là nguồn gốc, nơi sản sinh ra nguồn lực.
Nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân của mỗi con người, đó chính là sự khác biệt cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác. Thứ hai, NNL được xác định là tổng thể tất cả các nguồn lực của mỗi con người. Với tư 14 cách là một nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực mà con người có thể sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Nó được biểu hiện ra với số lượng và chất lương cụ thể trong một thời điểm và không gian cụ thể.
Thuật ngữ “Nguồn nhân lực” lần đầu tiên được xuất hiện vào đầu những năm 1890 do nhà kinh tế học Người Mỹ John R. Commons, trong cuốn sách “Sự phân bố của cải” (The Distribution of Wealth). Từ đó, khái niệm về NNL được hiểu là nguồn lực con người, thể hiện vai trò quan trọng của con người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời khái niệm NNL được sữ dụng một cách rộng rãi trên toàn thế giới.
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (2010), đưa ra quan điểm về NNL như sau: “Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển nguồn nhân lực cho một quốc gia, bao gồm toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao động”. Theo Liên Hợp quốc (2020), cho rằng: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế, hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế-xã hội trong một cộng đồng”. Theo khía cạnh này, NNL được hiểu như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Theo tác giả Trần Kim Dung (2018), cho rằng: “NNL được xem là nguồn lực con người của một tổ chức, doanh nghiệp, địa phương, quốc gia.
Là một trong những yếu tố quan trọng nhất, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội bao gồm tiềm lực nguồn nhân lực đang có tại địa phương và cả tiềm lực nguồn nhân lực bên ngoài dịch chuyển vào địa phương”. Tóm lại, khái niệm nguồn nhân lực thường được sử dụng để chỉ toàn bộ tài nguyên con người mà một tổ chức, doanh nghiệp, hoặc quốc gia có sẵn để sử dụng. Nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là số lượng người lao động, mà còn bao gồm kỹ năng, kiến thức, sức khỏe và tiềm năng sáng tạo của họ. Trong tổ chức hành chính nhà nước, nguồn nhân lực được hiểu là những người đang làm việc trong tổ chức hành chính nhà nước và được 15 sắp xếp vào vị trí công việc nhất định trong tổ chức hành chính nhà nước.
Những người này còn được gọi chung bằng tên riêng bao gồm cán bộ, công chức. Tóm lược về các cơ quan khối Đảng – Đoàn thể 1. Cơ quan khối Đảng cấp Huyện Ban Chấp hành (BCH) Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam (2021), Quy định về thi hành Điều lệ Đảng, ban hành ngày 30 tháng 7 năm 2021. Đã nêu, “Hệ thống tổ chức của Đảng được tổ chức theo đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn; cấp Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp Trung ương.
Đây là hệ thống tổ chức cơ bản của Đảng có chức năng lãnh đạo toàn diện ở mỗi cấp và của toàn Đảng”. Theo Điều lệ Đảng cấp ủy mỗi cấp lập cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc gồm Văn Phòng, Ban Tổ chức, Cơ quan Ủy ban Kiểm tra, Ban Tuyên giáo, Ban Dân vận hay còn gọi tắt là cơ quan Khối Đảng. Theo Quy định số 46-QĐ/TW ngày 03/12/2021 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc huyện ủy, quận ủy, thị ủy, thành ủy trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy như sau: Văn Phòng cấp ủy (gồm Huyện ủy, quận ủy, thị ủy, thành ủy trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy) Văn phòng Huyện ủy là cơ quan giúp việc, chịu trách nhiệm tham mưu của Ban Chấp hành Đảng bộ cấp Huyện ủy, trực tiếp và thường xuyên là Thường trực, BTV Huyện ủy trong tổ chức, điều hành công việc lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp hoạt động các cơ quan tham mưu, giúp việc Huyện ủy; là trung tâm thông tin tổng hợp phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện ủy. Trực tiếp quản lý tài sản, tài chính của Huyện ủy và chịu trách nhiệm việc sử dụng nguồn kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện và tổ chức phục vụ hoạt động của Huyện ủy, BTV, Thường trực Huyện ủy và các cơ quan tham mưu, giúp việc Huyện ủy.
Một số trách nhiệm và quyền hạn chung của Văn phòng Huyện ủy 16 Một là, chịu trách nhiệm trước BCH Huyện ủy, BTV, Thường trực Huyện ủy trong tham mưu, đề xuất với cấp ủy và thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao. Hai là, yêu cầu Đảng ủy trực thuộc và các tổ chức đảng trực thuộc Huyện ủy cung cấp, báo cáo các nội dung, thông tin, tài liệu để văn phòng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan. Ba là, được cử cán bộ dự các cuộc họp, hội nghị liên quan đến nội dung thuộc lĩnh vực chuyên môn do cơ quan phụ trách. Bốn là, thực hiện nhiệm vụ, trách nhiệm, thẩm quyền kiểm tra, giám sát theo quy định.
Năm là, thực hiện chế độ báo cáo định kỳ, đột xuất với Thường trực, BTV Huyện ủy và các cơ quan tham mưu, giúp việc tương ứng của Tỉnh ủy. Ban Tổ chức Huyện ủy Ban Tổ chức Huyện ủy là cơ quan tham mưu của BCH Đảng bộ cấp Huyện, trực tiếp và thường xuyên là Thường trực, BTV Huyện ủy về cán bộ và công tác cán bộ; hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết, quyết định, chỉ thị, quy chế, quy định của Đảng cấp trên và BCH Đảng bộ Huyện. Một số nhiệm vụ chung của Ban Tổ chức Huyện ủy: Một là, tổng hợp, theo dõi đội ngũ cán bộ của Huyện, trước hết là cán bộ do BTV Huyện ủy phụ trách, quản lý; giúp Huyện ủy, BTV Huyện ủy quản lý, nhận xét, đánh giá, quy hoạch, điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cho thôi giữ chức vụ, đình chỉ chức vụ, khen thưởng, giới thiệu ứng cử, thẩm tra xác minh về chính trị đối với các chức danh cán bộ thuộc quyền quyết định của Huyện ủy, BTV Huyện ủy và cán bộ thuộc diện quy hoạch các chức danh này. Hai là, quản lý cán bộ thuộc thẩm quyền của Đảng ủy các xã theo phân cấp quản lý cán bộ; Hướng dẫn cho các tổ chức cơ sở Đảng trực thuộc Huyện ủy về nghiệp vụ Đảng viên.
Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát công tác tổ chức, cán bộ, Đảng viên và thi hành Điều lệ Đảng; 17 Ba là, trước khi trình BTV Huyện ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ cấp Huyện các phương án sắp xếp tổ chức bộ máy, cán bộ, Đảng viên thì Ban Tổ chức sẽ thực hiện công tác thẩm định, thẩm tra; Bốn là, phối hợp với các cơ quan liên quan trong công tác tổ chức, quy hoạch, quản lý hồ sơ, đào tạo, bồi dưỡng, các chế độ, chính sách; giải quyết các vấn đề về đảng tịch; giải quyết hoặc phối hợp giải quyết kỷ luật, khiếu nại, tố cáo các vấn đề chính trị đối với CBCC, Đảng viên; bảo vệ chính trị nội bộ; phối hợp thực hiện việc chăm sóc sức khoẻ cán bộ thuộc diện cán bộ lãnh đạo; Năm là, Ban Tổ chức tham gia trong việc hướng dẫn xây dựng và kiểm tra thực hiện chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của các cơ quan Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội. Đây còn là cơ quan tham mưu việc đánh giá, phân loại các tổ chức cơ sở Đảng và Đảng viên hàng năm; thực hiện một số nhiệm vụ khác được Huyện ủy giao. Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy là cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng; tham mưu, giúp việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng trong Đảng bộ Huyện theo quy định. Một số nhiệm vụ chung của Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy: Một là, tham mưu cho BCH, BTV, Thường trực Huyện ủy các nội dung: quy chế làm việc của Ủy ban kiểm tra, chương trình, kế hoạch công tác hằng năm và đóng góp ý kiến vào định hướng chung trong công tác kiểm tra, giám sát.
Cụ thể như chuẩn bị chương trình, kế hoạch, nội dung kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng, đề nghị khen thưởng; Sơ kết, tổng kết về nội dung kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng hằng năm.