phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, gồm 3 chƣơng. Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về huy động vốn từ khách hàng cá nhân trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng huy động vốn từ khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Kỹ Thƣơng Việt Nam. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng huy động vốn từ khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Kỹ Thƣơng Việt Nam.
6 LỜI CẢM ƠN Trong quá trình nghiên cứu, vì vấn đề hạn chế về thời gian và kinh nghiệm thực tế nên trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận này em khó tránh khỏi những thiếu sót. Em mong nhận đƣợc sự góp ý, bổ sung của thầy cô, ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Kỹ Thƣơng Việt Nam. Hơn hết, em xin gửi lời cảm ơn đến cô giáo đã tận tình hƣớng dẫn em làm khóa luận này, TS. Nguyễn Minh Phƣơng và các anh chị trong Trung tâm Phát triển sản phẩm Huy động của khối PFS đã giúp em hoàn thành khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn! 7 LỜI CAM ĐOAN Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em. Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận xuất phát từ thực trạng của đơn vị thực tập là Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Kỹ Thƣơng Việt Nam. Tác giả khóa luận Lê Quỳnh Anh 8 CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN TỪ KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 TỔNG QUAN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái niệm nguồn vốn huy động và nghiệp vụ huy động vốn 1.1 Khái niệm về nguồn vốn của NHTM Trong cuốn “Kinh tế học” của David Begg nhận định: “Vốn được phân chia theo hai hình thái là vốn hiện vật và vốn tài chính”, ông đã đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp trong đó: Vốn hiện vật là hàng hóa sản xuất đƣợc dự trữ để tiếp tục sản xuất ra hàng hóa khác và vốn tài chính là tiền và tài sản trên giấy của doanh nghiệp.
Đối với ngân hàng, nguồn vốn của ngân hàng thƣơng mại (NHTM) là giá trị tiền tệ thể hiện giá trị ròng do NHTM tạo lập hoặc huy động để tiến hành cho vay, đầu tƣ hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác nhƣ nghiên cứu thị trƣờng, tìm kiếm khách hàng, thiết kế sản phẩm dịch vụ hay quản trị nhân lực. Nguồn vốn nhƣ đã đề cập là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng do đó mỗi ngân hàng đều xây dựng chiến lƣợc huy động tối ƣu hóa lợi thế riêng vốn nhằm đạt hiệu quả tối đa. Trong cuốn “Quản trị Ngân hàng thƣơng mại”, tác giả Peter Rose (2012) đã đề cập cụ thể hơn về khái niệm nguồn vốn của NHTM. Theo đó, vốn của NHTM bao gồm nguồn vốn tự có của ngân hàng (vốn chủ sở hữu), nguồn vốn huy động (tiền gửi của khách hàng có vốn nhàn rỗi tạm thời và tiền thu lại từ phát hành giấy tờ có giá), nguồn vốn đi vay và một số nguồn khác.
Trong đó, chiếm tỷ trọng lớn nhất, khoảng 90-95% trong tổng nguồn vốn kinh doanh của NHTM, là vốn huy động. NHTM là định chế trung gian tài chính thực hiện vai trò tập trung và phân phối lại vốn cho nền kinh tế dƣới hình thức tiền tệ, là cầu nối giữa chủ thể thiếu hụt vốn và chủ thể dƣ thừa vốn từ đó góp phần đẩy nhanh tốc độ của quá trình luân chuyển vốn đồng thời giảm chi phí vốn cho nền kinh tế.2 Khái niệm về nghiệp vụ huy động vốn của NHTM Theo giáo trình Ngân hàng Thƣơng mại (Học viện Ngân hàng) có đề cập, “Huy động vốn là một trong những nghiệp vụ cốt lõi của ngân hàng trong đó phản ánh quá trình hình thành vốn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng”. Ngân hàng có thể huy động vốn từ ba nguồn chính là từ dân cƣ, từ tổ chức và trên thị trƣờng vốn do đó có thể chia nghiệp vụ huy động vốn gồm: nghiệp vụ nhận tiền gửi là nguồn tiền nhàn rỗi từ các cá nhân hay tổ chức với mục đích nhƣ thanh toán hay bảo quản tài sản và nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá nhằm thu hút các khoản vốn có thời hạn tƣơng đối dài từ đó tăng khả năng cung cấp các nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Đối với NHTM, nghiệp vụ huy động vốn còn giúp khách hàng tăng sự tín nhiệm với ngân hàng do tại nhiều nƣớc đặc biệt là Việt Nam, nhiều khách hàng quan niệm rằng ngân hàng có quy mô vốn càng lớn thì càng an toàn với các hoạt động tiền gửi nếu có rủi ro.
Vì vậy, các NHTM luôn coi trọng việc quản trị nguồn vốn và xây dựng chiến lƣợc nguồn vốn phù hợp với mục tiêu phát triển của ngân hàng.2 Cơ cấu nguồn vốn 1.1 Vốn chủ sở hữu Xét về khía cạnh kinh tế, vốn chủ sở hữu (VCSH) có thể coi là vốn riêng do các chủ sở hữu đóng góp và đồng thời đƣợc hình thành thêm trong quá trình kinh doanh dƣới hình thức lợi nhuận giữ lại. Trong ngành ngân hàng, vốn chủ sở hữu là nguồn vốn tự có của ngân hàng để bắt đầu hoạt động. Cụ thể, đây đƣợc xem là một nguồn vốn có tính ổn định, lâu dài và đƣợc bổ sung trong quá trình kinh doanh. Vốn chủ sở hữu tuy thƣờng chiếm tỷ trọng nhỏ, khoảng từ 5% đến dƣới 10%, trong cơ cấu tổng nguồn vốn của ngân hàng song lại là điều kiện bắt buộc về mặt pháp lý để tạo lập tƣ cách pháp nhân cho ngân hàng theo thông tƣ số 09/2010 quy định về số vốn tối thiểu hay vốn pháp định.
Mặt khác, với đặc thù là đơn vị kinh doanh rủi ro, vốn chủ sở hữu có thể hoạt động nhƣ là chiếc phao duy trì khả năng thanh toán cho ngân hàng khỏi các khoản tổn thất. Do đó, ngân hàng có vốn chủ sở hữu càng lớn và duy trì ổn định nguồn vốn này thì là một trong những yếu tố quan trọng trong 10 việc gây dựng đƣợc niềm tin với khách hàng và khẳng định đƣợc vị thế tài chính trong mắt các nhà đầu tƣ. Vốn chủ sở hữu của NHTM, theo quy định các văn bản hiện hành (Luật các tổ chức tín dụng 2010, Thông tƣ 41/2016/TT- NHNN ngày 30/12/2016 và Quyết định 03/2007/QĐ-NHNN ngày 19/01/2007), đƣợc chia thành hai loại chính là vốn cấp 1 và vốn cấp 2. Vốn cấp 1 Vốn cấp 1 là VCSH có đặc tính tƣơng đối ổn định và đƣợc dùng để đầu tƣ vào tài sản cố định của NHTM và là căn cứ xác định giới hạn mua cổ phiếu.
Vốn cấp 1 gồm vốn điều lệ (nguồn vốn đã góp thực có), quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ đầu tƣ phát triển nghiệp vụ, quỹ dự phòng tài chính và lợi nhuận không chia. Vốn cấp 2 Vốn cấp 2 là VCSH tự bổ sung có tính ổn định thấp hơn và đƣợc hình thành từ giá trị tăng thêm của tài sản cố định (50%); giá trị tăng thêm của các loại chứng khoán đầu tƣ đƣợc định giá lại (40%); dự phòng chung đƣợc trích lập tối đa bằng 1.25% tổng tài sản rủi ro theo quy định hiện hành; các trái phiếu chuyển đổi hoặc cổ phiếu ƣu đãi phát hành đợt đầu có thời hạn tối thiểu là 5 năm trƣớc khi chuyển đổi thành trái phiếu phổ thông và một số các công cụ nợ khác do các nhà đầu tƣ bên ngoài đóng góp có kỳ hạn ban đầu tối thiểu là trên 10 năm.2 Vốn huy động Vốn huy động đƣợc hiểu là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động đƣợc từ các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội, thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ tiền gửi, thanh toán, tín dụng, nghiệp vụ kinh doanh khác và đƣợc dùng làm vốn để kinh doanh. Xét trên tổng nguồn vốn kinh doanh của NHTM, với từ 80-90%, vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất và có sức ảnh hƣớng lớn tới hoạt động của ngân hàng. Đặc điểm của vốn huy động là tài sản thuộc nhiều chủ sở hữu khác nhau do đó ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu với nguồn vốn này và phải có trách nhiệm hoàn trả đúng hạn cả gốc lẫn lãi khi chủ sở hữu có nhu cầu rút vốn.
Chính vì vậy, chi phí huy động vốn vì vậy cũng cao hơn so với hầu hết các 11 nguồn vốn khác do ngân hàng phải tiến hành trả lãi cho khách hàng là ngƣời gửi tiền, phải trích lập dự phòng bắt buộc theo quy định Ngân hàng Nhà nƣớc (NHNN). Bên cạnh đó, việc chịu sự tác động trực tiếp từ các chủ sở hữu khiến cho nguồn vốn này tƣơng đối nhạy cảm với thị trƣờng nhƣ lãi suất, tỷ giá, tỷ lệ lạm phát,… Do đó, ngân hàng không bao giờ sử dụng hết mà luôn duy trì một tỷ lệ dự trữ phù hợp để đảm bảo tính thanh khoản cho ngân hàng. Việc ngân hàng có nguồn vốn huy động tốt sẽ góp phần mở rộng hoạt động kinh doanh, tăng sức cạnh tranh với các ngân hàng khác và từ đó mở rộng thị phần của NHTM. Vốn huy động nhƣ đã đề cập đƣợc hình thành từ hai nguồn chính là vốn huy động từ tiền gửi và vốn huy động thông qua phát hành GTCG.
Trong đó: Vốn tiền gửi bao gồm tiền gửi của các tổ chức kinh tế, tiền gửi dân cƣ và tiền gửi khác. Đối với tiền gửi của tổ chức kinh tế sinh ra từ một bộ phận vốn nhàn rỗi tạm thời, khách hàng lúc này có nhu cầu tìm kiếm một phƣơng tiện lƣu trữ tiền đồng thời vẫn sinh lời và có thể tận dụng đƣợc các loại hình dịch vụ tài chính tiện ích khác mà ngân hàng là trung gian thanh toán, cung cấp dịch vụ nhƣ chi trả lƣơng, thanh toán hóa đơn thông qua tài khoản thanh toán theo yêu cầu của khách hàng. Đối với tiền gửi của dân cƣ là một phần từ thu nhập, khách hàng có nhu cầu tiết kiệm sinh lời dự phòng cho nhu cầu tiêu dùng tƣơng lai. Quy chế tiền gửi NHNN theo Quyết định số 14/VBHN- NHNN lý giải “Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi suất theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.