Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của việc quản lý nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường tiểu học. Chương 2: Thực trạng chất lượng và quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý của Phòng GD huyện Lục Nam – tỉnh Bắc Giang. Chương 3: Đề xuất một số giải pháp quản lý của Phòng GD nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường tiểu học trước yêu cầu đổi mới giáo dục. z 6 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA VIỆC QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƢỜNG TIỂU HỌC 1.
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Ở ngoài nước Trung hoa cổ đại, vào khoảng 500 đến 300 năm trước Công nguyên, đã xuất hiện các tư tưởng quản lý nhân sự của Khổng Tử nhằm mục đích đào tạo lớp người cai trị xã hội từ triết lý đạo nhân. Khổng Tử và các học trò của ông đã tiếp cận một cách khái quát các yếu tố nhân và lễ , nhân và lễ nghĩa, nhân và trí, nhân và dũng, nhân và tín, nhân và lợi, lợi và nghĩa, lợi và thành vào việc truyền đạo. Với việc đúc kết các yếu tố nhân, lễ, nghĩa, trí, dũng, tín, lợi, thành để đi đến các hình mẫu về phẩm chất và năng lực của người quản lý xã hội như "quân tử" và "kẻ sĩ".
Tư tưởng nói trên, đã thể hiện những quan điểm nâng cao chất lượng những cán bộ quản lý trong xã hội lúc bấy giờ [22]. Cuối thế kỷ XVIII, Robert Owen (1771-1858), Charles Babbage (1792- 1871) và Andrew Ure (1778- 1875) ở Phương Tây đã đưa ra ý tưởng: muốn tăng năng xuất lao động, cần tập trung giải quyết một số yếu tố chủ yếu như phúc lợi, giám sát công nhân, mối quan hệ giữa người quản lý đối với người bị quản lý và đặc biệt là nâng cao trình độ quản lý cho các nhà quản lý. Tiếp đó FrederickWinslow Taylor (1856- 1915) với bốn nguyên tắc quản lý khoa học đã đề cập tới nâng cao chất lượng của người quản lý [22, tr. z 7 Tại Pháp, Henri Fayol (1841- 1915) đã đưa ra 5 chức năng cơ bản của quản lý hành chính.
Theo ông, nếu người quản lý có đủ phẩm chất và năng lực kết hợp nhuần nhuyễn các chức năng, các quy tắc và nguyên tắc quản lý thì thực hiện được mục tiêu quản lý và dẫn đến thực hiện được mục tiêu của tổ chức [22, tr. Ở thế kỷ XX vào những thập kỷ 70- 80, một trường phái tiếp cận về quản lý trên cơ sở xem xét những yếu tố văn hoá đã xuất hiện trong đó có nêu những nét văn hoá quản lý vừa thể hiện ở phẩm chất vừa thể hiện ở năng lực người quản lý. Cũng trong thời kỳ này, việc nghiên cứu quản lý trên cơ sở xem xét tổng thể, thì lý thuyết sơ đồ 7S: Structure (cơ cấu), Strategy (chiến lược), Skills (các kỹ năng), Style ( phong cách), System (hệ thống) và Shared value (các giá trị chung) và đặc biệt là Staff (đội ngũ) đã xuất hiện. Khi phân tích về đội ngũ người đọc thấy được giá trị về chất lượng đội ngũ quản lý trong việc đạt tới mục tiêu của tổ chức [11, tr.
Khi xã hội công nghiệp phát triển có dấu tích của sự bùng nổ thông tin và dần chuyển thành xã hội thông tin (cuối thế kỷ XX đến nay), đã có các công trình nghiên cứu về quản lý trong môi trường luôn luôn biến đổi, quản lý theo quan điểm hệ thống, quản lý theo tình huống [11, tr.29] thì vấn đề nâng cao chất lượng của người quản lý thực sự đã được đề cập tới. Tiêu biểu nhất là công trình của ba tác giả Harold Koontz, Cyril Odonnell, Heinz Weihrich với tác phẩm nổi tiếng là “ Những vấn đề cốt yếu của quản lý” (NXB Khoa học và kỹ thuật Hà Nội - 1994). Công trình này đã đề cập nhiều hơn về các yêu cầu chất lượng của người quản lý. Năm 1991, Tổ chức UNESCO đã cho xuất bản cuốn “Quản lý hành chính và sư phạm trong các nhà trường tiểu học” của Jean Valerien [34].
Thông qua việc giới thiệu một số modul về vai trò, chức năng về nhiệm vụ của người hiệu trưởng trường tiểu học; tác giả đã có quan điểm vai trò, trách nhiệm và yêu cầu chất lượng của người hiệu trưởng. z 8 Gần đây, Vương Lạc Thu và Tưởng Nguyệt Thần (Trung quốc) đã có công trình khoa học lãnh đạo hiện đại (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội- 2000) [52], trong đó có hẳn một chương nêu lên vấn đề chất lượng và hiệu quả quản lý của cán bộ lãnh đạo và quản lý. Ở trong nước Hồ Chí Minh (1890- 1969) tư tưởng về quản lý giáo dục: khi bàn về công tác cán bộ, Người khẳng định "cán bộ là cái gốc của mọi công việc", "mọi thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém", "có cán bộ tốt thì việc gì cũng xong" [55]. Các nhà khoa học Việt Nam đã chắt lọc những vấn đề tinh tuý nhất của hầu hết các tác phẩm về quản lý của nước ngoài để thể hiện trong các công trình nghiên cứu của mình về những vấn đề chất lượng của người quản lý ( NXB Lao động, Hà Nội - 1982) [36]; Kiều Nam với cuốn Tổ chức bộ máy lãnh đạo và quản lý ( NXB Sự thật, Hà Nội - 1983) [40]; Nguyễn Minh Đạo với cuốn Cơ sở của Khoa học quản lý ( NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 1997) [27]; Đỗ Hoàng Toàn với cuốn Khoa học tổ chức và quản lý - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ( Trung tâm nghiên cứu Khoa học tổ chức và quản lý- NXB Thống kê, Hà Nội - 1999) [53],.
đã đề cập tới nhiều khía cạnh quan trọng của chất lượng cán bộ quản lý của một tổ chức; trong đó có chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý. Với góc độ lý luận quản lý giáo dục, các nhà khoa học Việt Nam đã tiếp cận quản lý trường học chủ yếu dựa trên nền tảng lý luận giáo dục học. Hầu hết các cuốn giáo dục học của các tác giả Việt Nam có đề cập tới chất lượng và phương thức nâng cao chất lượng cán bộ quản lý trường học thông qua việc phân tích thành tố lực lượng giáo dục. Như cuốn Phương pháp luận khoa học giáo dục ( Phạm Minh Hạc- Tổng chủ biên- 1981- Viện Khoa học giáo dục ấn hành) [29]; Quá trình sư phạm - Bản chất, cấu trúc và tính quy luật của Hà Thế Ngữ, 1986 [41]; Giáo dục học đại cương của Nguyễn Sinh Huy và Nguyễn Văn Lê, 1999 [32]; Tuyển tập Giáo dục học - Một số vấn đề z 9 lý luận và thực tiễn của Hà Thế Ngữ, 2001.
Kiểm định chất lượng giáo dục đại học của Nguyễn Đức Chính ( chủ biên), NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2002 [17]. Nhìn chung, vấn đề chất lượng cán bộ quản lý trường học và nâng cao chất lượng cán bộ quản lý trường học đã được thể hiện ít nhiều trong các công trình nghiên cứu cả trong và ngoài nước ( đã nêu trên), nhưng những giải pháp quản lý để nâng cao chất lượng cán bộ quản lý trường học nói chung và cán bộ quản lý trường tiểu học nói riêng thì chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào đề cập đến chính vì vậy mà chúng tôi lựa chọn vấn đề này làm đề tài nghiên cứu. Một số khái niệm có liên quan đến đề tài: 1. Quản lý Có nhiều cách hiểu về quản lý, tuỳ theo cách tiếp cận khác nhau: W.Taylor cho rằng: " Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất" [22, tr.
Trung tâm Nghiên cứu khoa học tổ chức, quản lý đã nêu ra: "quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung,. Quản lý là một nghệ thuật đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác" [7, tr. Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: " Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý ( người quản lý) đến khách thể quản lý ( người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức" [11, tr. Theo Trần Quốc Thành: " Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển hướng dẫn các quá trình xã hội của nhà quản lý, phù hợp với quy luật của khách quan" [50].
z 10 Qua những định nghĩa trên ta thấy rõ quản lý có những nét đặc trưng cơ bản về bản chất của hoạt động quản lý như sau: - Quản lý gồm hai thành phần là chủ thể và khách thể quản lý. " Ai quản lý": đó là chủ thể quản lý. Chủ thể quản lý có thể là một người hoặc một tổ chức. " Quản lý ai?", " quản lý cái gì?", " quản lý sự việc gì?": đó là khách thể quản lý.
Khách thể quản lý có thể là người, tổ chức, hay là sự vật cụ thể, cũng có khi khách thể là người, tổ chức được con người đại diện trở thành chủ thể quản lý cấp dưới thấp hơn. - Giữa chủ thể và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại, tương hỗ nhau, " chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể thì sản sinh các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thoả mãn mục đích của chủ thể quản lý" [50]. Chủ thể quản lý thực hiện các tác động thông qua việc xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra - đánh giá việc thực hiện kế hoạch. Ngày nay, quản lý thường được định nghĩa: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng phối hợp các chức năng: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
Theo chúng tôi: Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý ( người quản lý) đến khách thể quản lý ( người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các chức năng: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Quản lý cần có thông tin nhiều chiều. Thông tin là nền tảng của quản lý. Do vậy, có thể coi thông tin là chức năng đặc biệt cùng với bốn chức năng đã nêu trên.