CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC 1. Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ công chức 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Công chức và đội ngũ công chức Theo Khoản 1, Điều 1, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật CBCC và Luật viên chức số 52/2019/QH14 ngày 25/11/2019 quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.
Việc quy định công chức trong phạm vi như vậy xuất phát từ mối quan hệ liên thông giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị xã hội trong hệ thống chính trị. Đây là điểm đặc thù của Việt Nam rất khác so với một số nước trên thế giới nhưng lại hoàn toàn phù hợp với điều kiện cụ thể và thể chế chính trị ở Việt Nam. Như vậy, dấu hiệu để phân biệt công chức đó là: - Là công dân Việt Nam; - Được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm; - Trong biên chế hành chính; - Hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. - Đội ngũ công chức là: Đội ngũ công chức là toàn bộ công chức từ 7 Trung ương đến địa phương được hiểu là một hệ thống thống nhất, có cơ cấu tổ chức rõ ràng, được vận hành, hoạt động theo một cơ chế ổn định, liên tục.
Chất lượng đội ngũ công chức Theo TS. Tạ Ngọc Hải (2018), chất lượng công chức là tập hợp các yếu tố phản ánh chất lượng cá nhân mỗi công chức qua ba nhóm thể lực – trí lực – tâm lực với các yếu tố khác nhau như: + Thể lực biểu hiện ở các chỉ tiêu về sức khỏe trên phương diện y tế. Một số chỉ tiêu được áp dụng trong đánh giá chất lượng sức khỏe công chức như: Đánh giá thể lực theo tình trạng sức khỏe với các tiêu chí A, B, C, D; đánh giá thể lực theo tiêu chí độ tuổi. + Trí lực biểu hiện qua trình độ, năng lực và kỹ năng công tác.
Trình độ bao gồm các khía cạnh: chuyên môn, nghiệp vụ; lý luận chính; quản lý nhà nước; kỹ năng tin học và ngoại ngữ. Năng lực gồm có năng lực tư duy và năng lực thực thi, thừa hành. Năng lực tư duy chia thành các cấp độ khác nhau như: biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, đánh giá, phản biện, sáng tạo; năng lực thực thi, thừa hành theo yêu cầu, tiêu chuẩn của các ngạch cán sự, chuyên viên, chuyên viên chính và chuyên viên cao cấp. Kỹ năng công tác bao gồm: giao tiếp, quản lý thời gian, phân tích công việc, lập kế hoạch, phân công và phối hợp, làm việc nhóm, điều hành hội họp.
Ngoài ra, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý còn cần có năng lực, kỹ năng lãnh đạo, quản lý; tập hợp, đoàn kết công chức. + Tâm lực biểu hiện chủ yếu qua thái độ, trách nhiệm công tác. - Chất lượng đội ngũ công chức được xem xét trên các phương diện sau: + Số lượng công chức, bao gồm số lượng công chức trong mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị và số lượng tổng hợp chung của cả đội ngũ làm việc trong bộ máy nhà nước các cấp. + Cơ cấu công chức, được xác định cụ thể qua các tiêu chí như: độ tuổi, giới tính, vị trí công tác, trình độ đào tạo, đảng viên, dân tộc, tôn giáo.
8 + Chất lượng công chức, thể hiện một phần qua cơ cấu, qua chất lượng cá nhân mỗi công chức và chất lượng tập thể công chức ở mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị trong bộ máy nhà nước. Theo đó, đánh giá về chất lượng đội ngũ công chức và rộng hơn là đội ngũ CBCC, viên chức cần xem xét trên cả ba phương diện là số lượng, cơ cấu và chất lượng (cá nhân và tập thể công chức). Đặc điểm và vai trò của đội ngũ công chức 1. Đặc điểm của đội ngũ công chức - Đội ngũ công chức là chủ thể của nền công vụ, là những người thực thi công vụ và được Nhà nước đảm bảo các điều kiện cần thiết, quyền lợi chính đáng để có khả năng và yên tâm thực thi công vụ.
Đội ngũ công chức là những người có vị trí trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, có chức năng thực thi pháp luật và thi hành công vụ nhằm phục vụ lợi ích chung cho toàn xã hội. Những loại nhiệm vụ này do chính đội ngũ công chức các cấp thực hiện, không thể chuyển giao cho bất cứ tổ chức, cá nhân nào bên ngoài. - Là lực lượng lao động chuyên nghiệp, có tính chuyên môn hoá cao. Các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định nhằm thực hiện quyền hành pháp của Nhà nước để điều hành, quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội theo pháp luật và bằng pháp luật.
Với chức năng đó, bộ máy nhà nước đòi hỏi phải có đội ngũ công chức mang tính chất chuyên nghiệp, là những người thực hiện công vụ thường xuyên, liên tục, có trình độ chuyên môn và được đào tạo, bồi dưỡng về kỹ năng, nghiệp vụ quản lý hành chính nhà nước ở các mức độ khác nhau. - Đội ngũ công chức tương đối ổn định, mang tính kế thừa, nhưng luôn đòi hỏi không ngừng nâng cao về chất lượng. Hiện nay, xã hội không ngừng phát triển; đối tượng điều chỉnh của 9 pháp luật ngày càng mở rộng và phức tạp hơn nhưng các cơ quan nhà nước không thể tuyển dụng hàng loạt người lao động mới, vì rằng việc tuyển dụng và giải quyết các lao động dôi dư trong các cơ quan nhà nước luôn liên quan đến một loạt các vấn đề về chính sách, chế độ xã hội phức tạp. - Hoạt động của đội ngũ công chức diễn ra thường xuyên, liên tục trên phạm vi rộng và mang tính phức tạp.
Các cơ quan nhà nước được tổ chức thành hệ thống từ Trung ương đến cơ sở thực hiện nhiệm vụ quản lý, điều hành toàn bộ các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội, ngoại giao, quốc phòng, an ninh với các mặt hoạt động hết sức phong phú và phức tạp gồm tài chính, ngân sách nhà nước, kế toán, kiểm toán, thống kê, tín dụng, bảo hiểm, tài sản công, khoa học, công nghệ, môi trường, kế hoạch, xây dựng, bưu chính viễn thông, giao thông vật tải, nông nghiệp, y tế, văn hoá, giáo dục… Tất cả các hoạt động đó đều liên quan hàng ngày và trực tiếp hoặc gián tiến đến cuộc sống của tất cả mọi người dân, đòi hỏi hệ thống các cơ quan quản lý hành chính nhà nước và đội ngũ công chức phải đủ năng lực, thẩm quyền để giải quyết tất cả các vấn đề thuộc phạm vi quản lý, điều hành một cách nhanh chóng, kịp thời, có hiệu quả. - Đội ngũ công chức phải am hiểu và tôn trọng luật pháp và thông lệ quốc tế. Trong điều kiện mở cửa hội nhập quốc tế hiện nay, tất yếu Nhà nước phải giải quyết các quan hệ pháp lý mang yếu tố quốc tế, đồng thời phải ký kết và thực hiện các công ước quốc tế, các tập quán và thông lệ quốc tế trong tất cả các lĩnh vực. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, đội ngũ công chức phải có tri thức, phải am hiểu và tôn trọng luật pháp và thông lệ quốc tế.
- Đội ngũ công chức trung thành với Đảng, với Chính phủ, với Tổ quốc và nhân dân. Đây là đặc trưng cơ bản của đội ngũ công chức Việt Nam nói chung, xuất phát từ truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta và từ đặc điểm lịch sử, quá 10 trình cách mạng hình thành Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Về phương diện pháp lý, Nhà nước là thiết chế quyền lực do nhân dân bầu ra. Ngoài việc lập ra Nhà nước, nhân dân thông qua các hình thức khác tham gia hoạt động quản lý nhà nước, xã hội, tác động đến các quá trình hoạch định đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thực hiện việc giám sát đối với hoạt động của các cơ quan, tổ chức nhà nước, CBCC trong thực thi công vụ.
Trong hoạt động, các cơ quan nhà nước, công chức phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe và chịu sự giám sát của dân. Đặc điểm đội ngũ công chức khối UBND cấp huyện: Ngoài những đặc điểm chung của đội ngũ công chức Việt Nam, do đặc thù của cấp huyện và lĩnh vực công tác, đội ngũ công chức khối UBND cấp huyện còn có một số đặc điểm riêng. Đội ngũ công chức khối UBND cấp huyện là nguồn nhân lực quan trọng trong hệ thống chính trị cấp huyện, là những người vừa phải cụ thể hóa, vận dụng các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước vào thực tiễn như xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển KT – XH, vừa phải trực tiếp tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách, quy hoạch, kế hoạch đó. Họ là những người chỉ đạo hoặc trực tiếp giải quyết các chế độ, chính sách có liên quan đến quyền và lợi ích của các tổ chức, cá nhân trong huyện; là những người trực tiếp tiếp xúc với các tổ chức, cá nhân khi thi hành công vụ theo quy định của pháp luật.
Đội ngũ công chức khối UBND cấp huyện có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân trong huyện, phần lớn là người địa phương, được luân chuyển thường xuyên giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị. Chẳng hạn như CBCC làm việc tại Huyện ủy và các đoàn thể có thể luân chuyển sang làm việc trong UBND huyện và ngược lại. Do vậy, đòi hỏi đội ngũ công chức khối UBND cấp huyện ngoài am hiểu kiến thức về công tác QLNN còn phải am hiểu kiến thức về công tác xây dựng Đảng, đoàn thể. 11 Do đặc thù của quản lý nhà nước ở cấp huyện là quản lý đa ngành, đa lĩnh vực.