Mở đầu Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Kết quả và thảo luận Chương 4: Giải pháp 13 CHUONG 2. CO SO LY THUYET 2. Tông quan về cơ sở lý thuyết 2. Một số khái niệm cơ bản 2.
Khái niệm về Marketing dịch vụ Marketing dịch vụ là sự phát triển lý thuyết chung của Marketing và lĩnh vực dịch vụ. Dịch vụ lại rất biến động và đa dạng với nhiều ngành khác biệt nhau. Vì thé cho tới nay về học thuật chưa có định nghĩa nào khái quát được đầy đủ về Marketing dịch vụ. Theo Philip Kotler đã nêu rằng: “Marketing dịch vụ đòi hỏi các giải pháp nâng cao chất lượng, năng suất sản phẩm, dịch vụ, tác động nhằm thay đổi cầu vào việc định giá cũng như phân phối cô động”.
Theo Kpippendori thì :“ Đây là một sự thích ứng có hệ thông và phối hợp chính sách kinh doanh dịch vụ tư nhân và chính phủ với sự thoả mãn tối ưu những nhu cầu của những nhóm khách hàng đã được xác định và đạt được lợi nhuận xứng đáng”. Nói tóm lại chúng ta có thể hiểu về Marketing dịch vụ một cách tong thể như sau: “Marketing dịch vụ là sự thích nghi lý thuyết hệ thống vào thị trường dịch vụ bao gồm quá trình thu nhận, tìm hiểu, đánh giá và thoả mãn nhu cầu của thị trường mục tiêu bằng hệ thống các chính sách, các biện pháp tác động vào toàn bộ quá trình tô chức sản xuất, cung ứng và tiêu dùng địch vụ thông qua phân phối các nguồn lực của tổ chức. Marketing được xem xét trong sự năng động của mối quan hệ qua lại giữa các sản phâm dịch vụ của công ty và nhu cầu của người tiêu dùng cùng với hoạt động của đối thủ cạnh tranh trên nền tảng cân băng lợi ích giữa doanh nghiệp, người tiêu dùng và xã hội” 2. Khái niệm về dịch vụ, chất lượng, chất lượng dịch vụ a.
Khái niệm về dịch vụ Hiệp hội Tiếp thị Mỹ (1960): Hiệp hội Tiếp thị Mỹ đã dẫn đầu trong việc định nghĩa dịch vụ là "hoạt động, lợi ích hoặc sự hài lòng được cung cấp để bán hoặc cung cap trong qua trình bán hàng hoá". Định nghĩa này cung cấp quan điểm còn giới hạn về dịch vụ vì nó không định lượng giá trị của dịch vụ trong quá trình sản xuất hàng hóa hữu hình. Regan (1963): Repan trong định nghĩa dịch vụ của mình đã phân thành hai loại. Theo ông "dịch vụ hiện diện hoặc là hữu hình, mang lại sự hài lòng trực tiếp (giao 14 thông, nhà ở) hoặc là vô hình, mang lại sự hài lòng khi mua hàng hoá hoặc các dịch vụ (giao hàng, tín dụng).
Định nghĩa này tập trung vào các dịch vụ được cung cấp trực tiếp cho người tiêu dùng như là sản phẩm. Robert Judd (1964): Theo Robert Judd, dịch vụ là "một giao dịch thị trường thực hiện bởi một công ty hoặc nhà doanh nghiệp nơi mà đối tượng của giao dịch khác việc chuyên giao quyền sở hữu của một mặt hàng hữu hình" William J. Stanton (1974): Một quan điểm toàn diện các dịch vụ được cung cấp bởi Stanton. Theo ông dịch vụ được "nhận dạng riêng biệt, hoạt động phi vật thé cung cấp sự hài lòng mong muốn khi bán cho người tiêu đùng hoặc người sử dụng công nghiệp và không nhất thiết phải gắn liền với việc bán một sản phẩm hay dịch vụ khác" Theo Zeithaml & Bitner (2000): “Dịch vụ là những hành vị, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nảo đó nhằm tạo gia tri su dụng cho khách hàng làm hai long nhu cầu và mong đợi của khách hàng” Theo Kotler & Armstrong (2004): “Dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mả doanh nghiệp có thể công hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng” b.
Khái niệm chất lượng Theo Walter Shewhart (1931) định nghĩa chất lượng trên 2 khía cạnh. Theo khía cạnh khách quan, chất lượng là một thực tế khách quan độc lập với sự tồn tại của con người. Theo khía cạnh chủ quan, chất lượng như những gì chúng ta nghĩ cảm nhận, hoặc cảm giác như là một kết quả của thực tế khách quan. Dựa vào định nghĩa của Shewhart, Juran (1970) định nghĩa chất lượng là “phủ hợp cho sử dụng” và Feigenbamn (1951) thì cho răng chất lượng là “tốt nhất cho điều kiện khách hàng nhất định”.
Những định nghĩa này hình thành cơ sở cho những định nghĩa hiện đại về chất lượng. Parasuraman, Zeithaml và Berry (1988) xác định “chất lượng là sự đáp ứng hoặc vượt quá sự mong đợi của khách hàng” Tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Âu (European Organisation for Quality Control) cho rằng: “Chất lượng là mức phủ hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng” 15 Theo W. Deming: “Chat lượng là mức độ dự đoán trước về tính đồng đều và có thê tin cậy được, tạo mức chỉ phí thấp và được thị trường chấp thuận 13 Những năm gan đây, một khái niệm chất lượng được thống nhất sử dụng khá rộng rãi là định nghĩa trong tiêu chuẩn quốc tế ISO 8402:1994 do Tô chức Quốc tế về Tiêu chuân hóa (ISO) đưa ra, đã được đông đảo các quốc gia chấp nhận (Việt Nam ban hành thành tiêu chuẩn TCVN ISO 8402:1999): “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thế (đối tượng) tạo cho thực thế (đối tượng) đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ân” Theo ISO 9000:2000: “Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có của một sản phẩm, hệ thông hoặc quá trình thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan” c. Khái niệm về chất lượng dịch vụ Theo Lewis & Mitchell, 1990; Asubonteng & cộng sự, 1996; Wisniewski & Donnelly, 1996: Chat luong dich vu duoc dinh nghia bang nhiều cách khác nhau tủy thuộc vào đối tượng nghiên cứu và môi trường nghiên cứu.
“Chất lượng dịch vụ là mức độ mà một dịch vụ đáp ửng được nhu cầu và sự mong đợi của khách hàng”. Edvardsson, Thomsson & Ovretveit (1994) cho rằng “chất lượng dịch vụ là dịch vụ đáp ứng được sự mong đợi của khách hàng và làm thoả mãn nhu cầu của họ”. Theo ISO 8402, có thể coi chất lượng dịch vụ là “Tập hợp các đặc tính của một đối tượng, tạo cho đối tượng đó khả năng thỏa mãn yêu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ân”. Cũng có thé hiéu chat lượng dich vu đó là sự hài lòng của khách hàng được đo bằng hiệu số giữa chất lượng mong đợi (A) thấp hơn chất lượng đạt được (B) thì chất lượng là tuyệt hảo, nếu chất lượng mong đợi lớn hơn chất lượng đạt được thì chất lượng không đảm bảo, nếu chất lượng mong chất lượng đảm bảo.
Theo Parasuraman & cộng sự (1985, 1988) “chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ”. Do đặc tính vô hình, không đồng nhất và không thể tách rời của dịch vụ, chất lượng dịch vụ có thê được định nghĩa là “đánh giá của khách hàng về tông thê xuất sắc vượt trội của dịch vụ” (Zeithaml, 1988, trang 3) hoặc là "ấn tượng tổng thê của người tiêu dùng về tính ưu việt thấp kém tương đối của tổ chức và các dịch vụ"(Bitner và Hubbert, 1994, trang 77) 16 2. Y nghia, vai tro cua chat lượng dịch vụ đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của rạp Đối với doanh nghiệp: Việc nâng cao chất lượng dịch vụ tại các rạp chiếu phim giúp cho doanh nghiệp thu hút được nhiều khách hàng hơn, tăng doanh thu lợi nhuận, từ đó có giúp cho các rạp chiếu phim có thê phát triển hơn nữa, có đầy đủ chỉ phí dé có thé đầu tư đổi mới trang thiết bị, bắt kịp với xu thế phát triển của thị trường. Khi nâng cao chất lượng địch vụ giúp các rạp chiếu phim tăng khả năng cạnh tranh so với các doanh nghiệp kinh doanh cùng lĩnh vực khác.
Loại bỏ các đối thủ cạnh tranh yếu kém về tiềm lực, khả năng. Nâng cao uy tín, tạo hình ảnh tốt đẹp của doanh nghiệp trong lòng khách hàng về mức chất lượng dịch vụ mà rạp chiếu phim cung cấp. Giảm thiểu được chí phí quảng cáo, chi phí marketing, từ đó giảm giá thành dịch vụ và tăng doanh thu của doanh nghiệp. Doanh nghiệp duy trì và đảm bảo chất lượng dịch vụ tốt sẽ cung cấp cho người lao động môi trường làm việc tích cực và nhân viên có khuynh hướng gắn bó lâu đài và trung thành hơn với doanh nghiệp.
Đối với nhân viên Nhân viên thường cảm thấy tự hào khi được làm việc ở những doanh nghiệp có uy tín và đanh tiếng trên thị trường, họ nhận thấy những lợi ích của doanh nghiệp gắn chặt với lợi ích của bản thân mình. Đề khăng định và giữ chỗ làm việc của mình người nhân viên thường tự giác, thường xuyên tự nâng cao trình độ nghiệp vụ. tự hoàn thiện những mặt còn thiếu đề đáp ứng được yêu cầu thực tế. Quy trình nâng cao chất lượng dịch vụ Theo Bài giảng Marketing của Giảng Viên Vũ Thị Tuyết, các nhà quản trị đã thiết lập được quy trình nâng cao chất lượng dịch vụ như sau: 17 Thông tin marketing Thông tin sơ Thông tin thứ cap cap Doanh nghiép Giao tiếp với Thông tin bên Thông tin bên tô chức nghiên khách hàng ngoài trong cứu Sơ đồ 1.
Nguồn thông tin trong nghiên cứu marketing (Nguôn: Bài giảng Nghiên cứu Marketing - Vũ Thị Tuyết) Bước I: Nghiên cứu đánh giá cảm nhận và mong muốn của khách hàng về chất lượng dịch vụ hiện có tại doanh nghiệp Nghiên cứu marketing có tầm quan trọng lớn đối với các doanh nghiệp nói chung. Tuy nhiên, nó cảng quan trọng hơn đối với các doanh nghiệp địch vụ, vi tính vô hình của dịch vụ gây khó khăn cho khách hàng đánh giá chất lượng sản phẩm dịch vụ. Vì có nhiều biến số vô hình của dịch vụ ảnh hưởng đến sự hài lòng tong thê của khách hàng nên cần thường xuyên thu nhận thông tin từ khách hàng về mức độ hài lòng của họ. Đề nghiên cứu marketing thì cần có thông tin (dữ liệu đầu vào).
Thông tin (Dữ liệu) có thế được thu thập trực tiếp hoặc gián tiếp từ các đối tượng cần nghiên cứu bằng 3 phương pháp sau: Phương pháp quan sát: Quan sát bằng mắt, bằng máy ghi âm, ghi hình,. Quan sát hành vi của khách hàng, của đối thủ cạnh tranh, và của chính nhân viên trong công ty tại các nơi giao dịch, bán hàng. Phương pháp này rất thuận lợi đối với các doanh nghiệp dịch vụ thường xuyên tiếp xúc với khách hàng (Bưu điện, Ngân hàng, Nhà hàng, Khách sạn, Du lịch.