Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC CÁC MÔN KHOA HỌC MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 1. Sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu Chất lượng dạy học các môn khoa học Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học, cao đẳng trở thành vấn đề ngày càng thu hút sự quan tâm của các cấp, ngành có liên quan, của nhiều nhà khoa học, nhất là từ sau Đại hội toàn quốc lần thứ VI, khi Bộ đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) có chủ trương cụ thể chỉ đạo việc thực hiện đổi mới mục tiêu, chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo trong toàn ngành, trong các môn khoa học Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh được đặc biệt chú ý. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ chính trị, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chủ động phối hợp với Ban Khoa giáo Trung ương, Ban Tư tưởng văn hoá Trung ương tổ chức hội nghị toàn quốc về dạy và học các môn khoa học Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học, cao đẳng (tháng 6/1998). Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã tổ chức theo dõi, chỉ đạo, kiểm tra, nắm tình hình cụ thể ở các trường, kịp thời ra các văn bản chỉ đạo các trường trong toàn ngành giữ vững kỷ cương dạy và học các môn học này.
Mới đây nhất, ngày 24/6/2002, Thủ tướng chính phủ đã có quyết định số 494/QĐ - TTg phê duyệt đề án: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học, cao đẳng; môn chính trị trong các trường trung học chuyên nghiệp, dạy nghề”. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong những năm gần đây, rất nhiều nhà khoa học đã thông qua các tạp chí khoa học để lên tiếng luận bàn về thực trạng cũng như đóng góp các ý kiến nhằm nâng cao chất lượng công tác giảng dạy, học tập các môn học này. Trong số này đáng chú ý có các bài viết sau: Tiến sĩ Lê Hữu Ái (Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Đà Nẵng ) – Giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin ở các trường đại học - Tạp chí Nghiên cứu lý luận số 1 năm 2000. Tiến sĩ Nguyễn Văn Nam và cử nhân Lê Xuân Hoà (Phân viện Đà Nẵng)- Trao đổi về phương pháp giảng dạy lý luận Mác-Lênin-Tạp chí giáo dục lý luận số 10 năm 2000.
Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Hùng (Đại học Đà Nẵng) –Góp phần đổi mới giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin – Tạp chí giáo dục số 8,tháng 7 năm 2000. Tác giả Vũ Thanh Bình (Vụ Công tác Chính trị – Bộ Giáo dục và Đào tạo ) với bài viết: Nâng cao chất lượng dạy- học các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Chính trị trong các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Bài đăng trên Tạp chí giáo dục số 62, tháng 7 năm 2003. Các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục, quản lý đào tạo đã khái quát những luận điểm cơ bản về quản lý hoạt động đào tạo trong các trường cao đẳng, đại học làm cơ sở cho việc thực hiện công tác quản lý quá trình này một cách có hiệu quả.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và tương đối toàn diện về vấn đề quản lý hoạt động dạy học các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường cao đẳng và đại học. Những khái niệm cơ bản 1. Quản lý Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, trải qua nhiều giai đoạn, con người đều cần phải hoạt động lao động để tồn tại và phát triển. Để công việc có hiệu quả hơn, năng suất hơn đòi hỏi con người phải có sự phân công, 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hợp tác trong lao động và phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý, giúp người đứng đầu nỗ lực các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng, trong tổ chức đạt được mục tiêu đề ra.
Hoạt động lao động đặc biệt đó được gọi là hoạt động quản lý. Khi nghiên cứu về lý luận quản lý, các nhà nghiên cứu cũng như thực hành quản lý, với những cách tiếp cận khác nhau đã đưa ra rất nhiều quan niệm về quản lý: Chẳng hạn đối với lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin đã lý giải một cách đầy đủ và phản ánh chính xác những nét đặc trưng cơ bản của hoạt động quản lý. Theo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, quản lý xã hội một cách khoa học “là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hay những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội, trên cơ sở vận dụng đúng đắn những quy luật và xu hướng khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra”.Taylor, người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động trong từng bộ phận của nó, nêu ra hệ thống tổ chức lao động nhằm khai thác tối đa thời gian lao động, sử dụng hợp lý nhất công cụ lao động thì cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”. Nhà lý luận quản lý kinh tế người Pháp A.Fayon, cho rằng “Quản lý là đưa xí nghiệp tới đích, cố gắng sử dụng tốt các nguồn lực của nó”.
Nhà điều khiển học như Berg A.I lại cho rằng: “Quản lý là quá trình chuyển một hệ động lực phức tạp từ trạng thái này sang trạng thái khác nhờ tác động vào các phần tử biến thiên của nó ”. Khi nói về vai trò quản lý trong xã hội, Kozlova O.N định nghĩa “Quản lý là sự tác động có mục đích đến những tập thể con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình sản xuất” [34,tr 39]. Trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” của Harold Koonl thì quản lý được hiểu “là một hoạt động thiết yếu, nó bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm” [5,tr 33]. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Với cách tiếp cận ấy, tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [29,tr 24].
Theo giáo trình “Tâm lý học trong quản lý Nhà nước” (1993) của tác giả Mai Hữu Khuê thì hoạt động quản lý là một dạng lao động đặc biệt của người lãnh đạo mang tính tổng hợp các loại lao động trí óc, liên kết bộ máy quản lý là một chỉnh thể thống nhất, điều hoà phối hợp các khâu các cấp quản lý hoạt động nhịp nhàng đạt hiệu quả cao. Như vậy, bất cứ hệ xã hội nào: Một xí nghiệp, một nhà máy, một trường học, một Quốc gia, đều là hệ quản lý. Một hệ quản lý luôn tồn tại hai bộ phận có quan hệ gắn bó khăng khít với nhau. Bộ phận quản lý: giữ vai trò là chủ thể quản lý với chức năng điều khiển hệ quản lý làm cho nó vận hành tới mục tiêu đã đặt ra.
Bộ phận bị quản lý: Giữ vai trò là khách thể quản lý, bao gồm những người thừa hành trực tiếp sản xuất và bản thân quá trình sản xuất. Có thể chỉ ra những nét đặc trưng cơ bản của công tác quản lý hệ thống xã hội: - Quản lý là một loại hình hoạt động đặc biệt, một quá trình tác động qua lại giữa người và người. - Quản lý vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật huy động và sử dụng các nguồn lực. - Quản lý nhằm tập hợp mọi người, mọi cấp tạo ra sự hợp tác giữa các cá nhân và toàn xã hội trong việc tổ chức thực hiện kế hoạch và mục tiêu đã đề ra.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu: quản lý là một quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com môi trường. Khái quát những phân tích trên chúng tôi xây dựng mô hình quản lý như hình 1. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chủ thể quản lý Đối tượng Mục tiêu quản lý quản lý Hình 1.1: Mô hình quản lý Quản lý là một dạng lao động đặc biệt, là kết quả của sự phân công lao động xã hội, luôn gắn liền với quá trình lao động tập thể. Lao động quản lý có sự phân chia thành một hệ thống các khâu hay dạng hoạt động xác định nhờ đó mà chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý.
Các hoạt động này thường được chuyên môn hoá và gọi là chức năng quản lý. Vậy, chức năng quản lý có thể hiểu là một dạng hoạt động quản lý, thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định. Nền sản xuất xã hội luôn luôn vận động và phát triển, nên có các chức năng quản lý cũng không ngừng biến đổi, cải tiến và hợp lý hoá. Tập hợp các chức năng quản lý là nội dung của quản lý với tư cách là một quá trình.
Khi xác định các chức năng quản lý có nhiều ý kiến khác nhau, tuy nhiên được thống nhất với 4 chức năng cơ bản: * Lập kế hoạch: Xác định mục tiêu, biện pháp, cách làm cụ thể, xác định điều kiện cần thiết để thực hiện mục tiêu. * Chức năng tổ chức: Sắp xếp bố trí con người vào công việc, xác định tính chất các mối quan hệ, xác định cách thức thực hiện. * Chức năng chỉ đạo: Chức năng này có tính chất tác nghiệp, điều hành, điều chỉnh hoạt động. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com * Chức năng kiểm tra: Thu thập những thông tin ngược từ đối tượng quản lý để kịp thời đánh giá tổng kết, sửa chữa, điều chỉnh mục tiêu.
Tập hợp các chức năng quản lý là nội dung của quản lý với tư cách là một quá trình. Đáng chú ý là mọi quá trình quản lý, người quản lý phải thực hiện một dãy chức năng quản lý kế tiếp nhau một cách logic, bắt buộc, bắt đầu từ việc xác định mục tiêu và nhiệm vụ quản lý cho tới khi kiểm kê các kết quả đạt được và tổng kết quá trình quản lý.