Chương 1: Ứng dụng công nghê ̣ thông tin trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông - Cơ sở lí luận và thực tiễn - Chương 2: Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học “Chương III: Các nước Á, Phi và Mĩ La tinh (1945 - 2000)” lớp 12 trung học phổ thông (chương trình chuẩn) 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG – CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm cơ bản sử dụng trong đề tài * Chất lượng dạy học Dạy học là một hoạt động chủ yếu của hoạt động giáo dục, trong đó chất lượng dạy học là một bộ phận quan trọng hợp thành chất lượng giáo dục. Chất lượng dạy học (CLDH) thể hiện ở việc giáo viên truyền thụ cho học sinh hiểu và biết được những kiến thức như thế nào? Kiến thức đó có tác dụng thế nào tới sự phát triển tư duy của học sinh, có giúp các em ứng dụng vào thực tế hay không, được tiến hành qua một bài hay một quá trình dạy học. Song dạy học là hoạt động của một quá trình thống nhất, nên khi đánh giá chất lượng người ta còn chú ý đến cả kết quả học tập, rèn luyện của học sinh.
Như vậy, CLDH là kết quả giảng dạy và học tập xét cả về mặt định lượng và định tính so với các mục tiêu bộ môn cũng như sự góp phần vào quá trình hình thành và phát triển nhân cách của học sinh. Nghĩa là xét trên cả mặt nhận thức – giáo dưỡng, giáo dục và phát triển của học sinh. * Nâng cao chất lượng dạy học lịch sử CLDH ở trường phổ thông thể hiện ở kết quả của giáo dưỡng, giáo dục và phát triển toàn diện học sinh đạt mức tối đa nhưng không nhồi nhét kiến thức. Để thực hiện mục tiêu này, GV cần xây dựng cho mình kế hoạch dạy học toàn diện cho cả năm học, từng học kỳ, từng chương, từng bài.
Mỗi năm học, GV cần có sự điều chỉnh kế hoạch dạy học sao cho hợp lí với tình hình chung, điều kiện cụ thể, xác định kiến thức phù hợp với sách giáo khoa, trình độ học sinh, đồng thời lựa chọn phương pháp, phương tiện dạy học phù hợp nhằm đạt kết quả cao nhất,[5; tr.19] 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com * Giáo án điện tử và Bài giảng điện tử Giáo án là “bản kế hoạch của một tiết lên lớp, trong đó nêu rõ các bước chủ yếu trong công việc của thầy giáo và HS ở trên lớp, đồng thời cũng nêu được một cách vắn tắt nội dung và PP của công việc đó nhằm đạt được mục đích cụ thể và rõ ràng mà thầy giáo xác định trước theo yêu cầu của chương trình học” [22; tr. “Giáo án” và “bài giảng” là hai khái niệm khác nhau, vì “giáo án” là bản kế hoạch của một tiết lên lớp, còn “bài giảng” là việc thực thi bản kế hoạch đó. Xuất phát từ xu hướng đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT vào đổi mới PP để nâng cao chất lượng DH, hiện nay nhiều GV quan niệm bài học nghiên cứu kiến thức mới soạn thảo trên các phần mềm (thường là phần mềm PowerPoint, Violet) là “GAĐT”, hoặc “BGĐT”. Theo chúng tôi, GV không nên đồng nhất hai khái niệm này vì: Thứ nhất, “GAĐT” và “BGĐT” là hai khâu của quá trình DH ở trường phổ thông, nhưng đều có sự hỗ trợ của máy tính và các công cụ đa phương tiện.
Trong đó, để thực hiện một tiết dạy trên lớp với sự hỗ trợ của CNTT, GV phải có sự chuẩn bị từ trước (ở nhà), phải thiết kế toàn bộ kế hoạch hoạt động DH của mình trên các slide trình chiếu của máy tính, đó là“GAĐT”. Khi tổ chức cho HS học tập trên lớp, GV sử dụng bản kế hoạch ấy với toàn bộ hoạt động giảng dạy của mình đã được chương trình hóa một cách uyển chuyển, linh hoạt và sinh động nhờ sự hỗ trợ của các công cụ đa phương tiện cùng với năng lực tổ chức, nghiệp vụ sư phạm vốn có, góp phần nâng cao hiệu quả bài học – đó là “BGĐT”. Thứ hai, nếu chúng ta đồng nhất khái niệm “GAĐT” với “BGĐT” sẽ dễ gây ngộ nhận cho nhiều GV khi cho rằng có thể thay thế hoàn toàn “giáo án truyền thống”, thậm chí thay cho phấn trắng – bảng đen, các loại đồ dùng trực quan khác và cả vai trò của GV trong khâu tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của HS. Vì, mọi thứ đã được thiết kế và lưu sẵn trên máy tính, khi DH trên lớp, GV chỉ cần nhấn chuột trình chiếu slide, rồi “đọc lại” những nội 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dung ấy trên màn hình cho HS chép (những nội dung đã được GV đánh máy trên các slide ở nhà).
Đây thực sự là một quan niệm sai lầm, không những không từ bỏ được lối DH truyền thống “thầy đọc, trò chép”, mà còn sáng tạo ra một PPDH mới tệ hại hơn là “thầy kích chuột và đọc”để “trò nhìn, chép”. Ở đây, “BGĐT” nên được hiểu là một phương tiện DH hiện đại, trong đó nội dung của bài học đã được số hóa, chương trình hóa trong môi trường Multimedia nhằm hỗ trợ cho bài giảng trên lớp của GV đạt hiệu quả cao theo một kế hoạch giảng dạy đã chuẩn bị từ trước (GAĐT); đồng thời nó cũng là một quá trình lên lớp của GV có sự hỗ trợ đắc lực của các phương tiện điện tử nhằm đảm bảo cho việc thực hiện các nhiệm vụ DH trong những tình huống sư phạm linh hoạt, thể hiện sự tương tác đa chiều, có kết hợp với các phương pháp dạy học truyền thống và hiệu quả. * Công nghệ thông tin và truyền thông Từ cuối những năm 70 của thế kỉ XX, thuật ngữ “Tin học” (Tiếng Pháp Informatique) đã bắt đầu được sử dụng. Những năm 90, thuật ngữ “Công nghệ thông tin” (tiếng Anh là Information Technology) xuất hiện và ngày càng trở nên thông dụng trong thời đại của nền văn minh kinh tế tri thức.
Ở Việt Nam, từ khi có Nghị quyết 49 CP (1993) về phát triển CNTT thì thuật ngữ này ngày càng phổ biến. Từ năm 2000, thế giới bắt đầu sử dụng thuật ngữ “Công nghệ thông tin và truyền thông” (Information and Communication Technology - ICT). CNTT là một lĩnh vực khoa học rộng lớn nghiên cứu các khả năng và các phương pháp thu thập, lưu trữ, truyền và xử lí thông tin một cách tự động dựa trên các phương tiện kỹ thuật (máy tính điện tử và các thiết bị thông tin khác). ICT - Công nghệ thông tin và truyền thông được hiểu là một “tập hợp đa dạng các công cụ và tài nguyên công nghệ được sử dụng để giao tiếp, tạo ra, phổ biến, lưu giữ và quản lí thông tin”.
Các công nghệ này bao gồm máy tính, Internet, công nghệ truyền thông (đài và vô tuyến), và điện thoại. Trong những năm gần đây, người ta đặc biệt quan tâm đến việc làm thế nào để khai thác 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiệu quả nhất máy tính và Internet, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Nhưng ICT không phải chỉ bao gồm các phương tiện kể trên, nó còn bao hàm các phương tiện lâu đời hơn như điện thoại, đài và vô tuyến, nhưng hiện nay ít được chú ý. Chẳng hạn, đài và vô tuyến đã được sử dụng cho giáo dục mở và từ xa trên 40 năm nay.
Mặc dù vậy, giáo trình trên giấy vẫn là rẻ nhất, dễ tiếp cận, là hình thức chính ở những nước phát triển và đang phát triển. Hiện nay, việc sử dụng máy tính và Internet ở nước ta vẫn còn sơ khai do cơ sở hạ tầng hạn chế và phí truy nhập Internet cao. * Nâng cao chất lượng dạy học lịch sử với sự hỗ trợ của CNTT Việc nâng cao hiệu quả dạy – học với sự hỗ trợ của CNTT cần được xem xét trong quan điểm của công nghệ giáo dục để có những chuyển đổi cần thiết và đồng bộ về hình thức và nội dung. Giáo viên và học sinh cần được bồi dưỡng về giáo dục điện tử, cách thức vận dụng công nghệ mới để nâng cao hiệu quả của các phương pháp dạy học truyền thống.
Tích hợp những thành tựu của CNTT và truyền thông vào quá trình dạy học sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu quả và đổi mới PPDHLS ở trường THPT. ICT là một thành tựu lớn của cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật hiện nay, nó thâm nhập và cho phối hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ trong sản xuất, giáo dục, đào tạo và các hoạt động chính trị, xã hội khác. Trong giáo dục – đào tạo, ICT được sử dụng vào tất cả các môn học tự nhiên, kĩ thuật, xã hội và nhân văn. Hiệu quả rõ rệt là chất lượng giáo dục tăng lên cả về mặt lí thuyết và thực hành.
Vì thế, nó là chủ đề lớn được tổ chức văn hóa, giáo dục, khoa học thế giới (UNESCO) chính thức đưa ra thành chương trình hành động trước ngưỡng cửa thế kỉ XXI, dự đoán “sẽ có sự thay đổi nền giáo dục một cách căn bản vào đầu thế kỉ XXI do ảnh hưởng của CNTT”. Theo các chuyên gia giáo dục, nếu việc ứng dụng CNTT trong DHLS có hiệu quả thì sẽ có tác dụng lớn trên cả 3 mặt: giáo dưỡng, giáo dục và phát triển toàn diện học sinh, góp phần đổi mới phương pháp dạy - học của thầy và trò, 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khắc phục tình trạng “dạy chay”, “học chay”, khá phổ biến ở nhiều nhà trường phổ thông hiện nay. Bởi vì, theo các chuyên gia giáo dục, nếu cứ áp dụng PPDH truyền thống (thầy đọc – trò chép) thì 90% tri thức của học sinh được tiếp nhận qua tai, 10% qua mắt sau một thời gian ngắn sẽ rơi vào tâm trạng mệt mỏi, giảm sự chú ý, nhưng nếu các em vừa được nghe, vừa được nhìn thông qua hình ảnh, kết hợp với các hoạt động (tức là huy động cùng một lúc nhiều giác quan) thì kết quả ghi nhớ kiến thức của học sinh đạt hơn 90%. - Hồ sơ tư liệu dạy học: bao gồm tất cả những loại tài liệu có liên quan đến việc dạy, học của thầy và trò, phù hợp với nội dung chương trình bộ môn.