Tổng quan nghiên cứu

Trải qua hơn 60 năm xây dựng và phát triển kể từ ngày thành lập năm 1955, Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội đã đào tạo hơn 8.000 học viên, đóng góp nguồn nhân lực nghệ sĩ và chiến sĩ văn hóa cho toàn quân cùng xã hội. Trong hơn 20 năm qua, Khoa Âm nhạc đã tích cực mở rộng đào tạo chuyên ngành nhạc cụ phương Tây, đặc biệt là đàn Electric Guitar. Nhạc cụ này giữ vai trò trụ cột trong các ban nhạc nhẹ, dàn nhạc hòa tấu phục vụ các phong cách âm nhạc hiện đại như Jazz, Pop, Rock và Blues.

Tuy nhiên, trong suốt 5 năm gần đây, nhà trường vẫn chưa hoàn thiện được bộ giáo trình chuẩn hóa dành riêng cho hệ trung cấp chuyên nghiệp 4 năm (gồm 8 học kỳ). Thực trạng này dẫn đến việc giảng dạy chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân của 04 giảng viên cơ hữu và các nguồn tài liệu ngoại văn rời rạc. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là làm thế nào để chuẩn hóa quy trình đào tạo, giúp học viên khắc phục sự chênh lệch trình độ đầu vào và nâng cao kỹ năng diễn tấu. Mục tiêu cụ thể của công trình là xây dựng khung chương trình đào tạo 8 học kỳ tiên tiến, đồng thời thiết lập hệ thống phương pháp phát triển kỹ thuật ngón, kỹ xảo điện tử và tư duy ngẫu hứng độc tấu.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hệ trung cấp biểu diễn nhạc cụ Electric Guitar tại Khoa Âm nhạc giai đoạn khóa học 2015 – 2017. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc tối ưu hóa thời lượng 3 tiết/tuần/học viên (đạt 48 tiết/học kỳ và 360 tiết môn học mỗi kỳ), tạo nền tảng vững chắc cho chỉ tiêu 25 đến 30 học viên nhập học hàng năm đáp ứng chuẩn đầu ra khắt khe của các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quá trình dạy học như một hệ thống hoàn chỉnh kết hợp nguyên lý điều khiển học trong giáo dục. Mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động điều khiển của giảng viên và sự tự điều khiển, tự học của người học quyết định chất lượng đào tạo nghệ thuật. Nghiên cứu tích hợp quan điểm giáo dục hiện đại về việc lấy người học làm trung tâm, biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo thông qua sự khổ luyện kỹ năng vận động cơ bắp của bàn tay.

Khung lý thuyết chuyên ngành dựa trên các mô hình đào tạo âm nhạc phương Tây đương đại kết hợp giáo trình quốc tế về hòa âm và điệu thức Jazz. Ba khái niệm then chốt được làm rõ gồm: quá trình dạy học nhạc cụ chuyên nghiệp, kỹ thuật diễn tấu Electric Guitar đặc thù (với cấu tạo cần đàn từ 26 đến 28 ngăn phím và âm vực 4 quãng tám) và nghệ thuật ngẫu hứng âm nhạc (improvisation). Mô hình nghiên cứu thiết lập sự kết nối chặt chẽ giữa 3 trụ cột: thang âm (Scale/Mode), bài tập kỹ thuật (Etude) và tác phẩm diễn tấu cùng phần đệm tự động (Backing Track) trên nền tảng vòng công năng II - V7 - I.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm chương trình đào tạo 4 năm của nhà trường, hệ thống văn bản pháp quy từ Quyết định số 02/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, cùng hơn 10 tài liệu giáo khoa quốc tế từ các nhà xuất bản uy tín như Mel Bay và Amsco Publications. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 04 giảng viên cơ hữu bộ môn Guitar và nhóm học viên hệ trung cấp lứa tuổi 14 đến 21 tuổi đang theo học tại Khoa Âm nhạc. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu mục đích nhằm khảo sát chính xác thực trạng kỹ thuật và phân loại khả năng tiếp thu của học viên.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu kết hợp đối chiếu so sánh là nhằm nhận diện rõ các khoảng trống kỹ thuật trong chương trình cũ so với chuẩn đào tạo quốc tế. Phương pháp thực nghiệm sư phạm thí điểm diện hẹp được tiến hành trong năm học 2016 – 2017 nhằm kiểm chứng tính khả thi của hệ thống bài tập thang âm và phương pháp ngẫu hứng mới trên đàn Electric Guitar.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực trạng cho thấy nguồn tuyển sinh đầu vào có sự phân hóa rõ rệt: khoảng 60% học viên mới làm quen với đàn qua 3 đến 4 tháng ôn tập tạo nguồn nên thao tác tay còn vụng về, trong khi 40% học viên đã tốt nghiệp trung cấp văn hóa nghệ thuật địa phương với nền tảng Guitar cổ điển nhưng bỡ ngỡ trước phong cách nhạc nhẹ.

Chương trình đào tạo cũ bộc lộ nhiều điểm hạn chế khi 100% bài giảng phụ thuộc vào kinh nghiệm truyền khẩu, thiếu sự thống nhất về thang âm và hợp âm nâng cao. Dù định mức giờ dạy đạt 3 tiết/tuần/học viên (cao hơn 50% so với mức 2 tiết/tuần tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam), tỷ lệ học viên có khả năng ngẫu hứng độc tấu độc lập trước đây chỉ đạt khoảng 35%.

Sau khi áp dụng chương trình đổi mới trong năm học 2016 – 2017, kết quả thực nghiệm diện hẹp ghi nhận bước tiến vượt bậc: 100% học viên nắm vững hệ thống 7 Mode cơ bản ngay trong năm thứ nhất; tỷ lệ học viên làm chủ kỹ thuật gảy móng kép, bấm hợp âm mở rộng (9, 11, 13, 6/9) và ngẫu hứng thành thạo trên vòng II - V7 - I tăng từ 35% lên hơn 85%.

Thảo luận kết quả

Sự tiến bộ rõ nét bắt nguồn từ việc tích hợp hệ thống 25 bài Etude của Dan Higgins và các bài tập chùm ba của Frank Gambale, giúp giải phóng hoàn toàn sự căng cứng cơ bắp giữa tay gảy và tay bấm. Kết quả này củng cố quan điểm của các công trình âm nhạc học trước đây về việc kết hợp lối chơi kỹ thuật phương Tây với đặc điểm thể chất người Việt Nam.

Dữ liệu đào tạo có thể được mô tả qua bảng đối chiếu cấu trúc chương trình 4 năm: Năm 1 (gam 0 đến 4 dấu hóa, 7 Mode); Năm 2 (thang âm Lydian #5 và b7, hợp âm 7 át); Năm 3 (gam toàn cung 6 âm, kỹ thuật quét dây Sweep Picking); Năm 4 (độc tấu phức hợp, đệm hát và hòa tấu ban nhạc). Biểu đồ phân bổ năng lực minh chứng mức độ tự tin biểu diễn sân khấu của sinh viên tăng từ 40% lên 90% khi được luyện tập thường xuyên với phần đệm Backing Track và ban nhạc điện tử.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Ban Giám hiệu cùng Khoa Âm nhạc cần chuẩn hóa và ban hành bộ giáo trình nội bộ hệ trung cấp 4 năm (8 học kỳ, 48 tiết/kỳ), hoàn thành 100% đề cương chi tiết môn học trước năm 2018 nhằm tạo sự thống nhất tuyệt đối giữa 04 giảng viên cơ hữu.

Thứ hai, Tổ bộ môn Guitar cần tăng cường thời lượng diễn tấu cùng ban nhạc và Backing Track lên mức 40% tổng số tiết thực hành từ năm thứ 3. Giải pháp này giúp 100% học viên làm quen với áp lực âm thanh thực tế, hoàn thiện kỹ năng độc tấu các phong cách Jazz, Rock, Pop.

Thứ ba, Khoa Âm nhạc cần triển khai chương trình bổ trợ kỹ thuật 45 tiết trong 2 tháng đầu năm học cho 60% học viên nhóm mới làm quen nhạc cụ, nhằm rút ngắn khoảng cách trình độ với nhóm học viên đã có nền tảng cổ điển.

Thứ tư, nhà trường cần đầu tư nâng cấp trang thiết bị phòng thực hành, đưa học phần ứng dụng thiết bị hiệu ứng âm thanh (Effect, Pickup, Ampli) vào giảng dạy từ kỳ II năm thứ 2, bảo đảm 100% học viên tốt nghiệp tự làm chủ âm sắc biểu diễn cá nhân.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm giảng viên và nhà nghiên cứu sư phạm âm nhạc có thể sử dụng tài liệu này để tham khảo mô hình biên soạn giáo trình chuyên ngành nhạc cụ điện tử, tích hợp phương pháp giảng dạy thang âm hiện đại vào hệ thống bài giảng trung cấp và đại học.

Nhóm học sinh, sinh viên chuyên ngành Electric Guitar tìm thấy trong luận văn một cẩm nang học tập khoa học với lộ trình 8 học kỳ rõ ràng, từ luyện ngón cơ bản, xử lý gam 7 Mode, Pentatonic đến kỹ năng ngẫu hứng solo chuyên sâu.

Nhóm cán bộ quản lý đào tạo tại các trường văn hóa nghệ thuật toàn quốc có thể ứng dụng khung phân bổ 48 tiết/học kỳ và quy trình đánh giá bốc đề thực hành để nâng cao chất lượng khảo thí chuyên môn.

Nhóm nhạc công và nghệ sĩ biểu diễn tại các đoàn nghệ thuật khai thác được phương pháp phân tích vòng hòa âm II - V7 - I cùng kỹ năng phối hợp đệm hát, nâng cao tính sáng tạo khi hòa tấu dàn nhạc nhẹ.

Câu hỏi thường gặp

Điểm đột phá lớn nhất của chương trình đào tạo mới là gì? Chương trình mới quy định cụ thể từng dạng thang âm, hợp âm và bài tập Etude cho từng học kỳ trong suốt 4 năm học 48 tiết/kỳ. Việc đưa tác phẩm diễn tấu với Backing Track vào ngay kỳ I năm thứ nhất và dạy ngẫu hứng từ năm thứ 3 giúp học viên phát triển toàn diện kỹ năng biểu diễn.

Tại sao học viên cần nắm chắc hệ thống 7 Mode ngay từ năm thứ nhất? Hệ thống 7 Mode (gồm Ionian, Dorian, Phrygian, Lydian, Mixolydian, Aeolian, Locrian) là nền tảng cốt lõi của tư duy hòa thanh hiện đại. Nắm vững 7 Mode giúp học sinh định hình cấu tạo giai điệu nhạc Jazz, tạo tiền đề để triển khai ngẫu hứng độc tấu từ 0 đến 4 dấu hóa một cách chuẩn xác.

Học viên chuyển từ Guitar cổ điển sang Electric Guitar thường gặp trở ngại gì? Trở ngại lớn nhất là thói quen sử dụng lực tay và kỹ thuật gảy móng Pick. Dây đàn điện mềm hơn và cần đàn 26 đến 28 ngăn đòi hỏi học viên phải điều chỉnh khung bàn tay, kiểm soát tạp âm từ bộ khuếch đại và làm quen với độ nhạy của bộ cảm ứng từ Pickup.

Phương pháp thi bốc đề gam và Etude mang lại lợi ích gì? Phương pháp bốc đề trực tiếp 100% nội dung thi buộc học viên phải luyện tập bao quát toàn bộ hệ thống thang âm và hợp âm, loại bỏ hoàn toàn tình trạng học tủ một vài bài. Quy trình này nâng cao tính tự giác và khả năng phản xạ ngón tay trên toàn bộ cần đàn.

Làm thế nào để học viên làm chủ kỹ thuật ngẫu hứng độc tấu? Học viên cần thực hành liên tục trên vòng công năng II - V7 - I của các giọng trưởng, kết hợp thang âm Pentatonic, Blues và Whole tone scale. Việc tập luyện hàng ngày trên nền nhạc đệm tự động giúp tỷ lệ xử lý câu ngẫu hứng chính xác đạt trên 85%.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận dạy học đàn Electric Guitar chuyên nghiệp, kết hợp hài hòa giữa nguyên lý sư phạm hiện đại và đặc thù âm nhạc phương Tây.
  • Xây dựng thành công khung chương trình đào tạo trung cấp 4 năm gồm 8 học kỳ với định mức 48 tiết/kỳ, chuẩn hóa nội dung từ kỹ thuật cơ bản đến nâng cao.
  • Đề xuất giải pháp phân loại và bồi dưỡng bổ trợ hiệu quả cho hai nhóm học viên đầu vào trong độ tuổi 14 đến 21 tuổi.
  • Đổi mới phương pháp dạy học thông qua ứng dụng Backing Track và vòng hòa thanh II - V7 - I, nâng tỷ lệ học viên ngẫu hứng thành thạo lên hơn 85%.
  • Định hình lộ trình nghiên cứu tiếp theo giai đoạn 2018 – 2020 nhằm mở rộng biên soạn giáo trình bậc đại học cho các trường nghệ thuật toàn quân.

Quý độc giả, giảng viên và các nhà nghiên cứu âm nhạc hãy ứng dụng ngay khung chương trình và các giải pháp sư phạm từ công trình này để nâng cao chất lượng đào tạo nghệ sĩ biểu diễn nhạc nhẹ trong thời kỳ mới.