CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG DẠY HỌC ĐÀN ELECTRIC GUITAR TẠI TRƯỜNG ĐHVHNT QUÂN ĐỘI 1. Một số khái niệm dạy học đàn Electric Guitar 1. Khái niệm dạy học Dạy học là hoạt động trao truyền kiến thức qua các thế hệ chỉ có ở xã hội loài người. Mối quan hệ dạy và học luôn mang tính hữu cơ giữa hai chủ thể: người dạy và người học trong môi trường giáo dục.
Dạy học biểu hiện theo trình tự thời gian gọi là quá trình dạy học (QTDH), gắn liền lý thuyết với thực tiễn xã hội. Trong lý luận dạy học, tổ chức dạy học đóng vai trò quan trọng, trong đó yêu cầu người học chủ động, tự giác, tích cực tích lũy kiến thức dưới sự hướng dẫn, điều khiển, chỉ đạo của người dạy nhằm cụ thể hóa mục đích qua từng mục tiêu theo tiến độ bài giảng, kỳ học. Quá trình dạy học bao gồm các phương pháp hoạt động dạy và hoạt động học, tất cả cùng phối hợp, tương tác trong khoảng không gian, thời gian được quy định, nhằm hoàn thành kế hoạch, chương trình, khóa học. Cho đến nay có nhiều quan niệm khác nhau về quá trình dạy học.
Dưới đây là một số quan niệm: - Quá trình dạy học là một hệ thống: Quá trình dạy học được hiểu là một hệ thống gồm nhiều thành tố, trong đó người dạy và người học là hai chủ thể, còn hoạt động dạy và học đóng vai trò cơ bản. Không có một trong hai chủ thể như: không có học sinh và hoạt động học thì không thể hình thành quá trình dạy học (và ngược lại). Mối quan hệ dạy- học chỉ rõ vai trò giáo viên/chủ thể quản lý, tổ chức và hướng dẫn người học theo mục đích, người học là chủ thể/đối tượng chịu sự tác động để biến đổi nhận thức, hình thành cơ chế học tập. Khi người học là chủ thể thì quá trình tiếp thu diễn biến theo con đường nhận thức trở nên hiệu quả.
Do đó, với quan điểm dạy học là một hệ thống với sự tương tác, tương hỗ giữa người dạy và người học mang tính hữu cơ, trong đó tổ chức hoạt động dạy và học luôn là điều kiện để hệ thống vận hành đồng bộ, trôi chảy. Thiếu một trong các yêu tố trên, quá trình dạy học không hoàn chỉnh và không còn ý nghĩa. 8 Nguyễn Văn Tuấn xác định: “Vai trò chủ thể nhận thức đòi hỏi học sinh phải tự giác, tích cực, độc lập trong hoạt động học tập của mình” [25,tr. - Dạy học là hình thái điều khiển học: Quá trình dạy học khẳng định vai trò người dạy có chức năng điều khiển, còn người học là đối tượng điều khiển, khi lĩnh hội tri thức, người học luôn diễn ra quá trình tự điều khiển.
Sự điều khiển (của người dạy) và tự điều khiển (của người học) dựa trên nguyên lý điều khiển học theo mối liên hệ ngược, nghĩa là sự thu nhận thông tin về mức độ phù hợp của hành động thực hiện so với quy định. Có hai hình thức liên hệ ngược: liên hệ bên ngoài (loại thứ nhất) từ người học đến người dạy chủ yếu xác lập hai chức năng: điều khiển và bị điều khiển cùng tác động qua lại, tạo ý thức tự điều khiển của người học. Mối liên hệ ngược không chỉ thông qua việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập do người dạy tiến hành, mà còn hình thành nhận thức tự kiểm tra, đánh giá của người học. Điều này luôn xảy ra khi người học nhận thấy kết quả sai như: không đúng công thức, cách thực nghiệm vật lý.chính sự điều khiển của người dạy là yếu tố xây dựng nhận thức cho người học phát triển tư duy, kiểm nghiệm để đi tới chân lý khoa học.
Sự điều chỉnh, chỉ đạo của người dạy (loại thứ hai) là động cơ liên hệ ngược song hành với quá trình tự kiểm tra, đánh giá của người học, điều kiện hình thành và phát triển cách điều chỉnh học tập tự giác, tích cực và độc lập, làm cho việc học tập trở thành hệ điều chỉnh theo cơ chế điều khiển học. Ở đó, người học vừa là khách thể vừa là chủ thể của quá trình dạy học. Vì vậy “Điều khiển học luôn mang tính biện chứng, thống nhất từ người dạy (điều khiển) đến người học (được điều khiển và tự điều khiển)” [25,tr. - Dạy học với ý nghĩa là giáo dục: Hiểu theo nghĩa tổng quát, dạy học là con đường giáo dục gắn liền với đào tạo con người.
Như vậy quá trình dạy học được phân chia thành nhiều dạng tổ chức hoạt động khác nhau trong một phức hệ với quan điểm: “Học là công việc của cả một đời người, cả về mặt thời gian và tính đa dạng của nó”[9,tr. Theo luận điểm dạy học là một quá trình giáo dục, con người luôn phát triển trong môi trường tiếp nhận tri thức, đồng thời chuyển hóa (thay đổi dần ý thức, quan niệm) theo từng mục tiêu xác định của 9 giáo dục qua năm tháng, lứa tuổi và diễn ra trong suốt cuộc đời mỗi con người. Xét về nội dung và tính chất, quá trình dạy học là con đường ngắn nhất để các thế hệ trao truyền lại tri thức nhân loại. Từ nhiều hoạt động khác nhau, người học lĩnh hội, chủ động sáng tạo ra những giá trị khoa học mới, phục vụ trong điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn của lịch sử loài người.
Với ý nghĩa là giáo dục, dạy học là môi trường kiến thức, khơi dậy niềm đam mê, hứng thú học tập, giúp người học nhanh chóng đạt nhiều kết quả tốt từ lý thuyết đến thực tế xã hội. Điều này liên quan, gắn bó đến chất lượng dạy học nhằm đảm bảo cho quá trình dạy học diễn ra vừa theo chiều sâu vừa theo chiều rộng để người học nắm vững, hiểu rõ hệ thống kiến thức, từ đó phát huy tinh thần chủ động sáng tạo những giá trị mới, phục vụ lợi ích chung cho toàn thể cộng đồng, dân tộc và quốc gia. Theo thuyết thông tin: Quá trình dạy học gồm hai bộ phận là: bộ phận xử lí, truyền thông tin do người dạy chịu trách nhiệm và bộ phận thu nhận, xử lí, lưu trữ và vận dụng thông tin của người học. Trong quá trình đó, vấn đề cơ bản là làm sao khử được những thông tin, tín hiệu nhiễu đến từ nhiều nguồn khác nhau, đảm bảo cho việc truyền và nhận thông tin thông suốt, đạt hiệu suất, hiệu quả cao.14] Như vậy, quá trình dạy học được xem xét như một hệ thống bao gồm tập hợp các thành tố cấu trúc, có quan hệ biện chứng với nhau.
Hệ thống luôn tồn tại trong một môi trường và các thành tố của hệ thống cũng có sự tương tác lẫn nhau. Khi xem xét quá trình dạy học ở một thời điểm nhất định nó bao gồm các thành tố như: mục đích dạy học, nội dung dạy học, phương pháp, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học, giáo viên, học sinh.Trong đó, mục đích dạy học là đơn hàng của xã hội đối với nhà sư phạm, mục đích dạy học định hướng cho các thành tố khác trong quá trình dạy học, mục đích này được hiện thực hóa bằng nội dung dạy học. Người giáo viên với hoạt động dạy của mình, với những phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học tác động đến động cơ người học, thúc đẩy người học học tập sử dụng những phương pháp học tập, phương tiện, hình thức tổ chức hoạt động học. Sự tác động lẫn nhau giữa 10 hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh tạo nên kết quả dạy - học, nhằm biến đổi nhân cách người học.
Hoạt động dạy của giáo viên cũng phụ thuộc vào việc dạy cái gì, nghĩa là nội dung dạy học thể hiện mục đích sư phạm của hoạt động dạy. Hoạt động học của học sinh cũng vậy, nó bị quy định bởi động cơ, nội dung dạy học, vai trò của môi trường xã hội phản ánh trong đơn đặt hàng của xã hội, trong hoạt động của giáo viên. Quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng của hai thành tố cơ bản trong quá trình dạy học - hoạt động dạy và hoạt động học. Hoạt động dạy của người giáo viên là hoạt động lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức - học tập của học sinh, giúp học sinh tìm tòi khám phá tri thức, qua đó thực hiện có hiệu quả chức năng học của bản thân.
Hoạt động của người học luôn được khuyến khích tinh thần tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức học tập nhằm thu nhận, xử lý và biến đổi thông tin từ người dạy thành tri thức của bản thân, qua đó người học thể hiện mình, biến đổi mình, tự làm phong phú và tạo nên những giá trị riêng. Hoạt động dạy học đạt được hiệu quả tối ưu trong trường hợp có sự thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy và hoạt động học của người học, trong đó sự nỗ lực của người dạy và người học có mối tương hợp, song hành cùng nhau tạo nên sự cộng hưởng của quá trình dạy họ. Người học tồn tại vừa là đối tượng điều khiển của người dạy (đối tượng, chủ thể hoạt động dạy), bằng nhiều phương pháp dạy khác nhau, người học chịu tác động sư phạm với tư cách chủ thể nhận thức. Do đó, quá trình nhận thức của người học là quá trình phản ánh thế giới khách quan vào ý thức.
Như vậy, hai mặt hoạt động dạy và hoạt động học phối hợp chặt chẽ với nhau, kết quả của hoạt động này phụ thuộc vào hoạt động kia và ngược lại. Để phát triển tư duy sáng tạo, các nhà tâm lý học đã xác định năng lực tư duy sáng tạo không chỉ gồm nội dung lĩnh hội khối lượng tri thức, mà quan trọng nhất là chất lượng tri thức, đặc biệt làm thay đổi tâm lý, hành vi trong toàn bộ cấu trúc tư duy. Dưới góc độ tâm lý nhận thức, người học hiểu và chủ động 11 vận hành hệ thống kỹ năng, kỹ xảo bằng những thao tác cụ thể trong môi trường thực tế. Ngoài ra, sự bùng nổ tri thức trong giai đoạn đầu thế kỷ XXI đang diễn ra nhanh chóng, một mặt dạy học cần tiếp cận khoa học công nghệ tiên tiến, mới nhất, mặt khác đào thải nhiều quan niệm nhận thức cũ, không phù hợp với tiến bộ, văn minh nhân loại.
Do đó, quá trình dạy học luôn sử dụng những phương pháp hiện đại nhằm đem lại hiệu quả tích cực cho người học. Như vậy, quá trình dạy học không chỉ dạy cho người học lĩnh hội tri thức mà cần phải nêu ra những phương pháp học chủ động, tích cực và sáng tạo.