CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO 1.MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1. Chất lượng Chất lượng luôn là vấn đề quan trọng, là một phạm trù phức tạp mà con người thường hay gặp trong các lĩnh vực hoạt động của mình. Việc phấn đấu nâng cao chất lượng được xem là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của bất kỳ một cơ sở hoạt động nào. Vậy chất lượng là gì ? Thuật ngữ “chất lượng” có nhiều quan điểm khác nhau trong cách tiếp cận và đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau - Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông chất lượng là “tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc)… làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác” (theo Từ điển tiếng Việt phổ thông): - Chất lượng là: Cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật” hoặc là : “Cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia” (theo Từ điển tiếng Việt thông dụng, NXB Giáo dục, 1998).
“Chất lượng là cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật” hoặc là “cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia” (Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2001). - Chất lượng là “ Mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản” (theo Oxford Pocket Dictionary). - Chất lượng là “ Tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu người sử dụng” (Tiêu chuẩn Pháp – NFX 50-109). - Theo định nghĩa của ISO 9000-2000 “ Chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có”, Trong đó yêu cầu được hiểu là các nhu cầu hay mong đợi đã được công bố, ngầm hiểu hay bắt buộc.
- Theo định nghĩa của tiêu chuẩn ISO9001:2008 thì “Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu” - Chất lượng là “Tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn” (TCVN-ISO8402). Chất lượng được thể hiện ở các khía cạnh (theo Harvey & Green, 1993) đó là: + Sự xuất chúng, tuyệt vời, ưu tú, xuất sắc. + Sự hoàn hảo. + Sự phù hợp, thích hợp.
+ Sự thể hiện giá trị. 15 + Sự biến đổi về chất. Trên đây là một số định nghĩa tiêu biểu về chất lượng. Mỗi định nghĩa được nêu ra dựa trên những cách tiếp cận khác nhau về vấn đề chất lượng và do đó mỗi một quan niệm đều có mặt mạnh và mặt yếu riêng.
Định nghĩa về chất lượng đưa ra trong Tiêu chuẩn Việt Nam 8402 là hợp lý nhất. Bởi lẽ, theo định nghĩa đó có thể hiểu một theo một cách đơn giản như sau: “Chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng theo các tiêu chuẩn và mục tiêu đã đề ra”. Đây là một định nghĩa khá hợp lý, hoàn chỉnh và thông dụng nhất hiện nay. Nó phát huy được những mặt tích cực và khắc phục được những hạn chế của các khái niệm trước đó, ở đây chất lượng được xem xét một cách toàn diện và rộng rãi hơn.
Chất lượng đào tạo. Chất lượng nói chung và chất lượng đào tạo nói riêng là những thuật ngữ khái niệm cơ bản được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau. “ Chất lượng” phản ánh thuộc tính đặc trưng, giá trị, bản chất của sự vật và tạo nên sự khác biệt ( về chất) giữa sự vật này và sự vật khác. Theo quan điểm triết học chất lượng hay sự biến đổi về chất là kết quả của quá trình tích lũy về lượng ( quá trình tích lũy, biến đổi) tạo nên những bước nhảy vọt về chất của sự vật và hiện tượng.
Trong lĩnh vực sản - xuất kinh doanh chất lượng của sản phẩm được đặc trưng bởi các yếu tố về nguyên vật liệu chế tạo, qui trình và công nghệ sản xuất, các đặc tính về sử dụng kể cả về mẫu mã, thị hiếu, mức độ đáp ứng người tiêu dùng v.các đặc tính chất lượng có thể được thể hiện qua các chỉ số kỹ thuật – mỹ thuật, mức tiêu thụ của sản phẩm trên thị trường và có thể so sánh dễ dàng với các sản phẩm khác cùng loại và đương nhiên chúng có các giá trị, giá cả khác nhau. Trong lĩnh vực giáo dục phổ thông, chất lượng giáo dục được phản ánh trước hết ở các phẩm chất và năng lực của người học ( nhân cách học sinh) được hình thành và phát triển thông qua quá trình giáo dục ở các bậc, cấp học theo các mục tiêu giáo dục tương ứng, phù hợp với nhu cầu và trình độ phát triển của xã hội. Trong lĩnh vực đào tạo nghề nghiệp, chất lượng đào tạo với đặc trưng sản phẩm là “ con người lao động” có thể hiểu là kết quả (đầu ra) của quá trình đào tạo và được thể hiện cụ thể ở các phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu đào tạo của từng ngành đào tạo trong hệ thống đào tạo. Với yêu cầu đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, quan niệm về chất lượng đào tạo không chỉ dừng ở kết quả của quá trình đào tạo trong nhà trường với những điều kiện đảm bảo nhất định 16 như cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên … và còn phải tính đến mức độ phù hợp và tính thích ứng của người lao động như tỷ lệ có việc làm sau tốt nghiệp, năng lực hành nghề tại các vị trí làm việc cụ thể ở các doanh nghiệp, cơ quan, các tổ chức sản xuất – dịch vụ, khả năng phát triển nghề nghiệp.
Tuy nhiên cần nhấn mạnh rằng chất lượng đào tạo trước hết phải là kết quả của quá trình đào tạo và được thể hiện trong hoạt động nghề nghiệp của người tốt nghiệp. Quá trình thích ứng với thị trường lao động không chỉ phụ thuộc vào chất lượng đào tạo mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác của thị trường như quan hệ cung – cầu, giá cả sức lao động, chính sách sử dụng và bố trí công việc của Nhà nước và người sử dụng lao động .Do đó khả năng thích ứng còn phản ánh cả về hiệu quả đào tạo ngoài xã hội và thị trường lao động.1: quan hệ giữa mục tiêu và chất lượng đào tạo 17 Hình 1.2: Mô hình tổng thể quá trình đào tạo Mục tiêu chung của giáo dục là “đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc” ( Luật giáo dục 2005- Điều 2) - Chất lượng đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đã đề ra với một chương trình đào tạo (Lê Đức Ngọc, Lâm Quang Thiệp – Đại học Quốc gia Hà Nội). - Chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể (Trần Khánh Đức – Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục). Chất lượng đào tạo luôn được quan tâm và coi trọng của tất cả các nhà trường.
Việc phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo bao giờ cũng được xem là nhiệm vụ quan trọng nhất của tất cả các cơ sở đào tạo. Đánh giá chất lượng đào tạo. Chất lượng được đánh giá bằng “Đầu vào” Quan điểm Một số nước phương tây cho rằng “Chất lượng đào tạo của một trường phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng đầu vào của trường đó”. Quan điểm này được gọi là “quan điểm nguồn lực” có nghĩa là: Nguồn lực = Chất lượng Theo quam điểm này, một trường tuyển được SV giỏi, có đội ngũ CB giảng dạy uy tín, có cơ sở vật chất có trang bị các phòng thí nghiệm phòng thực hành, giảng đường, các thiết bị tốt nhất được xem là trường có chất lượng cao.
Quan điểm này đã bỏ qua sự tác động của quá trình đào tạo diễn ra rất đa dạng và liên tục trong thời gian học sinh sinh viên học tập trong trường. Sẽ khó biện thích trường hợp một trường đã có nguồn lực “đầu vào” dồi dào cả số lượng và chất lượng nhưng lại có những hoạt động đào tạo hạn chế hoặc ngược lại, một trường có những nguồn lực khiêm tốn, nhưng đã cung cấp cho người học một chương trình hiệu quả. Chất lượng được đánh giá bằng “Đầu ra” Một quan điểm khác về chất lượng trong đào tạo cho rằng “đầu ra” của quá trình đào tạo có tầm quan trọng hơn nhiều so với “đầu vào”. “Đầu ra” chính là sản phẩm của đào tạo được thể hiện bằng mức độ hoàn thành công việc của SV tốt nghiệp hay khả năng cung cấp các hoạt động đào tạo của trường đó.
Có hai vấn đề quan trọng liên quan đến cách tiếp cận này. Một là, mối liên hệ giữa “đầu ra” và “đầu vào” không được xem xét đúng mức. Trong thực tế mối liên hệ này là có thực, cho dù đó không hoàn toàn là quan hệ nhân quả. Một trường có khả năng tiếp nhận các SV xuất sắc, không có nghĩa là SV của họ sẽ tốt nghiệp loại xuất sắc.
Hai là, cách đánh giá “đầu ra” của các trường rất khác nhau. Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị gia tăng” Quan điểm thứ 3 về CL cho rằng một trường có tác động tích cực tới sinh viên khi nó tạo ra được sự khác biệt trong sự phát triển về trí tuệ và cá nhân của sinh viên. “Giá trị gia tăng” được xác định bằng giá trị của “đầu ra” trừ đi giá trị của “đầu vào”, kết quả thu được: là “giá trị gia tăng” mà trường đó đã đem lại cho sinh viên và được đánh giá là chất lượng. Nếu theo quan điểm này về CL, một loạt vấn đề phương pháp luận nan biện sẽ nảy sinh: khó có thể thiết kế một thước đo thống nhất để đánh giá chất lượng “đầu vào” và “đầu ra” để tìm ra được hiệu số của chúng và đánh giá chất lượng của trường đó.
Hơn nữa các trường trong hệ thống giáo dục lại rất đa dạng, không thể dùng một bộ công cụ đo duy nhất cho tất cả các trường.