Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng công chức ngành thống kê tập trung Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng nâng cao chất lượng công chức ngành thống kê tập trung các tỉnh tây nguyên Chương 4: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng công chức ngành thống kê tập trung các tỉnh tây nguyên. 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG CÔNG CHỨC NGÀNH THỐNG KÊ TẬP TRUNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Đã có rất nhiều công trình trong và ngoài nƣớc nghiên cứu về nguồn nhân lực, đây là một trong những yếu tố quan trọng của nền sản xuất xã hội mà bất cứ quốc gia nào cũng cần phải có. Balakrishnan (2003), Human Resource Management, Annamalai Universtiy, India, đã đƣa ra khái niệm về nguồn lực con ngƣời và quản lý nguồn lực con ngƣời.
Ông cho rằng nguồn nhân lực đƣợc coi là một tài sản rất quan trọng của bất kỳ tổ chức hay quốc gia nào. Các tài nguyên khác sẽ không có ý nghĩa khi không có nguồn nhân lực, nhờ nguồn nhân lực mà các nguồn lực khác đƣợc sử sụng có hiệu quả và có mục đích hơn. Cuốn sách Thần kỳ Đông Á: Phát triển kinh tế và chính sách công của Ngân hàng thế giới (WB - 1993), đã phân tích và khẳng định: Các nƣớc Đông Á có giai đoạn tốc độ phát triển kinh tế tăng gấp hai, ba lần các nƣớc phát triển ở Âu - Mỹ. Một trong những nguyên nhân quan trọng tạo nên thần kỳ Đông Á chính là do chính sách đầu tƣ, phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao ở các nƣớc này.
Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển nhân lực Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (2006), đề tài cấp bộ của Viện Chiến lƣợc và Phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ. Đề tài nêu thực trạng nhân lực của Việt Nam giai đoạn 2001 đến 2005 nhƣ: Chất lƣợng nhân lực (thể lực, trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật, sử dụng nhân lực), số lƣợng nhân lực, những hạn chế của nhân lực, từ đó có các giải pháp chủ yếu phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam đến 2020. 5 Luận án tiến sĩ của Đoàn Anh Tuấn (2012), Nâng cao chất lượng nhân lực của Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam. Đề tài đã nêu lên cơ sở lý luận, chất lƣợng nhân lực, thực tiễn về nhân lực và nâng cao chất lƣợng nhân lực nói chung sau đó đề cập đến nguồn nhân lực của Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam nói riêng.
Theo nghiên cứu, nhân lực là con ngƣời nằm trong lực lƣợng lao động (dân số trong độ tuổi lao động) với kỹ năng, kiến thức và kinh nghiệm tích lũy trong mỗi con ngƣời nhờ quá trình học tập, rèn luyện và lao động thể hiện khả năng làm việc với mỗi trình độ nhất định trong sản xuất; nâng cao chất lượng nhân lực là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện của con ngƣời vì sự tiến bộ kinh tế - xã hội và sự hoàn thiện bản thân của mỗi con ngƣời; chất lượng nhân lực là sự hiện thực hóa năng lực thể chất và năng lực tinh thần sáng tạo, tìm kiếm, phát hiện thông tin và vật chất hóa thông tin thành mức độ hoàn thành công việc, sản phẩm và công nghệ mới. Các đánh giá chi tiết về chất lƣợng nhân lực, thực trạng các nội dung nâng cao chất lƣợng nhân lực, các đánh giá chung về những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân từ đó đƣa ra các phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao chất lƣợng nhân lực của Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở của Nguyễn Trí Duy (2012), Nghiên cứu những nội dung và giải pháp phát triển nguồn nhân lực của hệ thống thống kê tập trung. Luận văn đƣa ra khái niệm ngắn gọn về nguồn nhân lực (là tổng thể các chỉ số phát triển con ngƣời, mà con ngƣời có đƣợc nhờ sự trợ giúp của cộng đồng, xã hội và sự nỗ lực của bản thân và là tổng thể số lƣợng dân và chất lƣợng con ngƣời, là tổng thể sức mạnh thể lực, trí lực, kinh nghiệm sống, nhân cách, đạo đức, lý tƣởng, chất lƣợng văn hóa, năng lực chuyên môn và tính năng động trong công việc mà bản thân con ngƣời, xã hội có thể huy động vào cuộc sống lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội) và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực ngành thống kê bao gồm cơ cấu tổ 6 chức (quy định theo Quyết định 54/2010/QĐ-TTg), đánh giá về quy mô, cơ cấu nguồn nhân lực ngành thống kê từ đó đề ra các mục tiêu cụ thể, các giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực hiện có và chất lƣợng nguồn nhân lực đầu vào cũng nhƣ đảm bảo nguồn vốn cho công tác nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực của hệ thống thống kê tập trung.
Đề tài thạc sĩ của Vũ Kiên Quyết (2016), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tại Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh. Luận văn đã đề cập đến việc nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu trong quá trình đổi mới đất nƣớc, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đội ngũ cán bộ công chức, viên chức là những ngƣời xây dựng, thực thi các chủ trƣơng và chính sách, là nhân tố quyết định đối với sự phát triển đất nƣớc. Đề tài thạc sỹ của Ngô Văn Ninh (2012), Nâng cao chất lượng nhân lực ngành thống kê tỉnh Tuyên Quang.
Đề tài đã đƣa ra cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lƣợng nhân lực ngành thống kê, trong đó nêu lên vai trò đặc điểm của thống kê và ngành thống kê, đặc điểm nhân lực ngành thống kê; các lý luận về nhân lực và chất lƣợng nhân lực; quản lý nhân lực trong đơn vị hành chính cũng nhƣ kinh nghiệm của các nƣớc trong việc nâng cao chất lƣợng nhân lực ngành thống kê. Về đánh giá thực trạng chất lƣợng nhân lực ngành thống kê tỉnh Tuyên Quang, đề tài đã nêu đƣợc thực trạng về chính sách tuyển dụng và chất lƣợng nhân lực của ngành từ đó đánh giá những kết quả đạt đƣợc cũng nhƣ tồn tại, hạn chế và nguyên nhân từ đó đƣa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng nhân lực ngành thống kê tại Tuyên Quang. Chất lƣợng nhân lực của mỗi quốc gia, mỗi ngành, mỗi địa phƣơng đã có rất nhiều nghiên cứu nhƣng tại khu vực Tây nguyên của Việt Nam, nơi tập trung các tỉnh có những đặc trƣng gần giống nhau về địa lý, văn hóa. hiện chƣa có công trình nghiên cứu nào đánh giá một cách toàn diện, đa chiều về chất lƣợng công chức ngành thống kê tập trung của khu vực này.
7 Kế thừa khung lý thuyết về chất lƣợng nhân lực, đề tài vận dụng để đánh giá thực trạng, từ đó đƣa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng công chức mà cụ thể là chất lƣợng công chức ngành thống kê tập trung các tỉnh khu vực Tây nguyên. Cơ sở lý luận về chất lƣợng công chức ngành thống kê tập trung 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nhân lực Loài ngƣời từ tự nhiên sinh ra, tuân theo các quy luật tự nhiên, đồng thời con ngƣời tồn tại và phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Các Mác cho rằng con ngƣời là một thực thể trong sự thống nhất biện chứng giữa cái tự nhiên và cái xã hội. Theo quan điểm triết học của ông thì nền sản xuất xã hội đƣợc cấu thành bởi các yếu tố tƣ liệu sản xuất và lao động của con ngƣời. Bởi vậy, con ngƣời ở đây đƣợc coi nhƣ một yếu tố đầu vào quan trọng của quá trình sản xuất. Theo quan điểm của kinh tế học phát triển thì nhân lực là nguồn tài nguyên nhân sự của mỗi quốc gia hoặc của một tổ chức và chính là vốn nhân lực.
Xét ở góc độ vĩ mô đó là nguồn lực xã hội, xét ở góc độ vi mô đó là một tập hợp của rất nhiều cá nhân, nhân cách khác nhau với những nhu cầu và tâm lý khác nhau, là toàn bộ đội ngũ nhân viên của tổ chức, vừa có tƣ cách là khách thể của hoạt động quản lý vừa là chủ thể hoạt động và là động lực của tổ chức đó. Xem xét ở góc độ của một tổ chức, ngƣời lao động đƣợc coi là nhân lực và có khả năng thay đổi về số lƣợng, chất lƣợng trong quá trình phát triển của tổ chức, hay còn gọi là "vốn nhân lực, đƣợc hiểu là tiềm năng, khả năng phát huy tiềm năng của ngƣời lao động, là cái mang lại nhiều lợi ích hơn trong tƣơng lai so với những lợi ích hiện tại". Quan điểm sản xuất thì coi con ngƣời là nguồn lực đầu vào của nền sản xuất xã hội, vì thế vốn con ngƣời đƣợc coi là “nguồn nhân lực”. 8 Bên cạnh các tiếp cận về mặt khoa học, khái niệm nhân lực cũng đƣợc đề xuất bởi các tổ chức quốc tế.
Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng: Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn về con ngƣời (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp.) mà mỗi cá nhân sở hữu, nó đƣợc coi nhƣ một nguồn vốn bên cạnh những nguồn vốn vật chất khác nhƣ vốn bằng tiền, vốn công nghệ, tài nguyên thiên nhiên… đầu tƣ cho con ngƣời giữ vị trí trung tâm và đƣợc coi là cơ sở chắc chắn cho sự phát triển bền vững. Liên hợp quốc cũng đƣa ra khái niệm nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, năng lực của con ngƣời có quan hệ tới sự phát triển của đất nƣớc. Đây là yếu tố quan trọng bậc nhất trong kết cấu hạ tầng xã hội - kinh tế. Theo Chƣơng trình phát triển liên hợp quốc (UNDP): "Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con ngƣời hiện có thực tế hoặc đang là tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng".
Nhƣ vậy, nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động con ngƣời của một quốc gia đã đƣợc chuẩn bị ở một mức độ nhất định, có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc; "tiềm năng đó bao hàm tổng hòa các năng lực về thể lực, trí lực, nhân cách con ngƣời của một quốc gia, đáp ứng với một cơ cấu nhất định của lao động do nền kinh tế đòi hỏi.