Chương 1:Cơ sở luận về chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng TMCP Á Châu chi nhánh Hà Nội. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng TMCP Á Châu chi nhánh Hà Nội. 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Các vấn đề cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Khái niệm cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ Theo quy định tại điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005: “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tài sản và tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc cấp giấy đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện các hoạt động kinh doanh trên thị trƣờng. Doanh nghiệp thực hiện quá trình kinh doanh một cách liên tục, bao gồm một, một số hoặc tất cả các công đoạn từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm trên thị trƣờng nhằm mục đích sinh lợi.” Căn cứ vào Luật Doanh nghiệp 2005 thì hình thức pháp lý của các loại hình doanh nghiệp Việt Nam đƣợc chia thành: công ty trách nhiệm hữu hạn; công ty cổ phần; công ty hợp danh và doanh nghiệp tƣ nhân. Theo ngân hàng thế giới (World Bank), căn cứ vào quy mô doanh nghiệp, các doanh nghiệp đƣợc chia ra thành 4 loại tƣơng ứng với số lƣợng lao động: doanh nghiệp siêu nhỏ với số lƣợng lao động <10 ngƣời, doanh nghiệp nhỏ (số lƣợng lao động từ 10-50 ngƣời), doanh nghiệp vừa (số lao động 50-300 ngƣời), doanh nghiệp lớn từ 300 ngƣời trở lên.
Mỗi nƣớc lại đƣa ra khái niệm rất khác nhau về doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bởi mỗi quốc gia có những tiêu chí và định mức đánh giá, phân loại quy mô doanh nghiệp khác nhau. Các tiêu chí đó phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội của các nƣớc, một doanh nghiệp có thể đƣợc xem là doanh nghiệp nhỏ tại quốc gia này nhƣng lại đƣợc xem là doanh nghiệp lớn tại quốc gia khác. Ngay trong cùng một quốc gia, những tiêu chí này cũng có thể thay đổi phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế từng thời kỳ, giai đoạn phát triển, hay tùy vào từng ngành nghề khác nhau.
Tại Việt Nam, trƣớc khi nghị định 39/2018/NĐ-CP ra đời, các doanh nghiệp đƣợc phân chia theo quy mô vốn và số lƣợng lao động theo nghị định 56/2009/NĐ- CP. Hiện nay, do sự thay đổi của thị trƣờng cùng với sự đa dạng trong hoạt động của doanh nghiệp, chính phủ đã ban hành nghị định 39/2018/NĐ-CP thay thế nghị định cũ. Với mục đích phân loại và hỗ trợ tốt nhất cho các doanh nghiệp, nghị định chỉ ra các tiêu chí về nguồn vốn và doanh thu cho các doanh nghiệp trong từng lĩnh vực.1: Tiêu chí xác định DNVVN tại Việt Nam Doanh nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nhỏ Quy mô Tổng Tổng Số lao Tổng Số lao nguồn Số lao nguồn vốn động nguồn vốn động TG vốn hoặc động TG hoặc tổng TG hoặc tổng BHXH tổng BHXH Khu vực doanh thu BHXH doanh thu (ngƣời) doanh thu (ngƣời) (tỷ đồng) (ngƣời) (tỷ đồng) (tỷ đồng) I.Nông, lâm nghiệp và NV ≤ 3 NV ≤ 20 NV ≤ 100 ≤ 10 ≤ 100 ≤ 200 thủy sản DT ≤ 3 DT ≤ 50 DT ≤ 200 II.Công nghiệp và NV ≤ 3 NV ≤ 20 NV ≤ 100 ≤ 10 ≤ 100 ≤ 200 xây dựng DT ≤ 3 DT ≤ 50 DT ≤ 200 III.Thƣơng NV ≤ 3 NV ≤ 50 NV ≤ 100 mại và dịch ≤ 10 ≤ 50 ≤ 100 DT ≤ 10 DT ≤ 100 DT ≤ 300 vụ (Nguồn: Nghị định số 39/2018/NĐ-CP) 1. Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam Doanh nghiệp vừa và nhỏ mang đặc điểm của một doanh nghiệp nói chung, hoạt động và kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng có những đặc điểm riêng. Thứ nhất, sự đơn giản trong quy mô, tổ chức nên rất linh hoạt, nhạy bén với sự thay đổi của thị trường. Tính chất hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu tập trung ở khu chế biến và dịch vụ, gần với ngƣời tiêu dùng, thực hiện các dịch vụ đa dạng và phong phú trong nền kinh tế, có khả năng tiếp cận và đáp ứng những nhu cầu nhỏ lẻ mang tính chất khu vực. Cơ cấu tổ chức gọn nhẹ tạo điều kiện giúp các doanh nghiệp tổ chức và giám sát tình hình kinh doanh chặt chẽ và hiệu quả hơn, các quyết định quản lý đƣợc thực hiện nhanh chóng, công tác kiểm tra, giám sát, điều hành trực tiếp.
Nhờ đó, các doanh nghiệp tiết kiệm đƣợc chi phí quản lý quản lý doanh nghiệp, giảm những sai lệch do sự cồng kềnh trong bộ máy tổ chức. Hơn nữa, 9 doanh nghiệp vừa và nhỏ có lợi thế về chi phí vốn đầu tƣ ban đầu thấp, vòng quay vốn nhanh đem lại hiệu quả kinh tế cao. Điều đó tạo tính chất linh hoạt, giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể nhanh chóng điều chỉnh các mục tiêu, chiến lƣợc để thích nghi với thị trƣờng, thậm chí là chuyển hƣớng kinh doanh, nắm bắt nhu cầu thị hiếu của ngƣời tiêu dùng để thay đổi mặt hàng kinh doanh phù hợp. Thứ hai, dễ dàng đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ, hoạt động hiệu quả với chi phí thấp Doanh nghiệp có nguồn vốn ít, dễ tiến hành việc đổi mới trang thiết bị, khoa học công nghệ khi điều kiện cho phép.
Trong thời đại phát triển khoa học công nghệ, nhất là với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ: “Công nghiệp 4.0” hiện nay, đó là ƣu thế lớn giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể đạt hiệu quả kinh tế cao, nâng cao chất lƣợng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm, tăng tính cạnh tranh trên thị trƣờng ngay cả khi điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế về vốn. Thứ ba năng lực cạnh tranh hạn chế, khó khăn vay vốn trong khi nhu cầu vốn kinh doanh lớn. Năng lực cạnh tranh thể hiện qua nhiều yếu tố nhƣ khả năng đáp ứng nhu cầu thị trƣờng, trình độ quản lý, uy tín thƣơng hiệu, nguồn nhân lực chất lƣợng cao, áp dụng khoa học công nghệ hiện đại. Doanh nghiệp vừa và nhỏ thƣờng hạn chế về nguồn vốn, tài nguyên và công nghệ, trình độ quản lý thấp dẫn đến chất lƣợng sản phẩm chƣa cao, giảm tính cạnh tranh trên thị trƣờng.
Chính vì thế nhu cầu sử dụng vốn của các doanh nghiệp này là rất lớn, đặc biệt là các nguồn vốn tín dụng. Tuy nhiên do quy mô nhỏ, uy tín thấp, hạn chế về năng lực tài chính, không đáp ứng điều kiện vay vốn nên gặp rất nhiều khó khăn trong công tác vay vốn. Thứ tư trình độ quản lý và lao động hạn chế Doanh nghiệp vừa và nhỏ do hạn chế về tài chính nên gặp khó khăn trong việc thu hút đƣợc các nhà quản lý và lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao. Đội ngũ quản lý với trình độ hạn chế dẫn đến năng lực điều hành kém ảnh hƣởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Về công tác đào tạo, chƣa xây dựng đƣợc hoàn thiện các quy trình đào tạo rõ ràng, phần lớn lao động chƣa qua đào tạo 10 dẫn đến tốn kém chi phí nhân lực, không đủ năng lực sản xuất để đáp ứng các yêu cầu về chất lƣợng, khó nâng cao năng suất và hiệu quả kinh doanh. Với những khó khăn và hạn chế đã nêu trên về các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đòi hỏi công tác hỗ trợ của nhà nƣớc và sự cải tiến, khắc phục trong chính nội tại doanh nghiệp đảm bảo cho sự phát triển lâu dài của nền kinh tế. Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trƣờng hiện nay, sự tồn tại của các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp với quy mô và trình độ khác nhau là một tất yếu khách quan. Mỗi hình thức doanh nghiệp có một vai trò riêng trong nền kinh tế.
Riêng DNVVN hiện nay có vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế, đặc biệt đối với các nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam: Góp phần tạo nhiều việc làm cho người lao động. Vấn đề giải quyết việc làm cho ngƣời lao động là mục tiêu hàng đầu của các quốc gia phát triển. Sự tồn tại và phát triển của DNVVN đã góp phần ổn định các yếu tố vĩ mô trong nền kinh tế nhƣ giải quyết việc làm, đóng góp GDP và tăng trƣởng kinh tế… Mặc dù số lƣợng lao động ít nhƣng với sự lớn mạnh về số lƣợng các DNVVN đã tạo công ăn việc làm cho rất nhiều ngƣời lao động. Các doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay chủ yếu là DNVVN, chiếm hơn 97% tổng số các doanh nghiệp trong cả nƣớc với đa dạng các ngành nghề.
Theo kết quả thống kê năm 2015, loại hình doanh nghiệp này hàng năm tạo ra thêm trên nửa triệu lao động mới, sử dụng 51% lao động xã hội, đóng góp vào GDP hơn 40%. Vì vậy có thể nói các DNVVN hiện nay đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển của nền kinh tế. Cung cấp khối lượng hàng hóa đa dạng và phong phú về số lượng, chất lượng và chủng loại thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Với việc chiếm số lƣợng đông đảo, thu hút nguồn tài nguyên lớn của xã hội, đa dạng về ngành nghề, DNVVN đã tạo ra cho nền kinh tế số lƣợng lớn về hàng hóa, dịch vụ thỏa mãn nhu cầu trong nƣớc cũng nhƣ xuất khẩu, góp phần thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế.
Đặc biệt khuyến khích các ngành nghề thủ công mỹ nghệ, thủy sản… phát triển góp phần tăng GDP. 11 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa. Nếu nhƣ hầu hết các doanh nghiệp lớn tập trung chủ yếu tại các thành phố, các khu đô thị, có điều kiện thuận lợi thì với ƣu thế phân tán rộng khắp, đáp ứng nhu cầu nhỏ lẻ mang tính khu vực đã giúp DNVVN tạo lập sự cân đối về trình độ phát triển giữa các vùng miền, đồng đều giữa các lĩnh vực kinh tế, hạn chế việc chuyển dịch lao động từ nông thôn lên thành thị. Ngoài ra, việc trao đổi mua bán giúp chuyển dịch cơ cấu vốn, tăng tỷ trọng các ngành thƣơng mại dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hƣớng công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
Tạo động lực khôi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống, góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc. Phát huy và tận dụng các nguồn lực địa phương, góp phần tăng trưởng kinh tế.