CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm, tiêu chí chất lượng của vay của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm cho vay và chất lượng cho vay của ngân hàng thương mại Theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ban hành ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng, theo đó ngân hàng thương mại giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định, theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi”. Chất lượng tức nói về việc thoả mãn tiêu chuẩn tối thiểu cần thiết để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Một sản phẩm chất lượng cao sẽ đáp ứng được đầy đủ các tiêu chuẩn đó. Tiêu chuẩn ISO 8402-1986 định nghĩa “Chất lượng là toàn bộ các tính năng và đặc điểm của một sản phẩm hay dịch vụ mà có khả năng đáp ứng được nhu cầu đã đặt ra hay những nhu cầu ngụ ý” [18]. Trong nhiều ngành công nghiệp, một tiêu chuẩn chất lượng sẽ được đặt ra bởi các tổ chức độc lập như British Standards Institution (BSI). Các công ty được hưởng lợi bằng cách điều chỉnh cách họ làm việc để đáp ứng các tiêu chuẩn này.
Các doanh nghiệp hy vọng rằng chi phí của việc nâng cao chất lượng sẽ nhiều hơn và được trang trải bởi doanh số bán hàng tăng thêm. “Với cách đề cập như vậy, thì chất lượng cho vay là sự đáp ứng như cầu vốn của khách hàng, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng và phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội. Để có thể hiểu rõ hơn về chất lượng cho vay, ta xem xét sự thể hiện chất lượng cho vay trên các khía cạnh sau: - Đối với khách hàng: Chất lượng cho vay được thể hiện ở chỗ số tiền mà ngân hàng cho vay phải có lãi suất và kỳ hạn hợp lý, thủ tục đơn giản, thuận lợi, thu hút được nhiều khách hàng nhưng vẫn phải đảm bảo nguyên tắc cho vay. 7 - Đối với Ngân hàng thương mại: Chất lượng cho vay được thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn cho vay phải phù hợp với thực lực của bản thân Ngân hàng và đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường vơi nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi.
Đối với một Ngân hàng nhỏ thì nên cho vay với mức độ và phạm vi nhất định để thỏa mãn tốt nhất khách hàng của mình. - Đối với nền kinh tế: Chất lượng cho vay được thể hiện ở việc cho vay phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hóa, góp phần giải quyết công an việc làm, khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng với tăng trưởng kinh tế. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc điểm và vai trò đối với nền kinh tế 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Ở Việt Nam, theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV: DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như trong Bảng 1.1: Phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ theo khu vực kinh tế ở Việt Nam DN siêu DN nhỏ DN vừa nhỏ Quy mô Tổng nguồn Tổng nguồn Số lao Số lao động Số lao động vốn vốn động I.
Nông, lâm Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 10 người trở 20 tỷ đồng nghiệp và người đến đồng đến 100 người đến xuống trở xuống thủy sản 200 người tỷ đồng 300 người Từ II. Công Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ 10 người trở 20 tỷ đồng trên 200 nghiệp và người đến đồng đến 100 xuống trở xuống người đến xây dựng 200 người tỷ đồng 300 người III. Thương Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 50 10 người trở 10 tỷ đồng mại và dịch người đến đồng đến 50 người đến xuống trở xuống vụ 50 người tỷ đồng 100 người (Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP) 8 Ngoài ra, căn cứ theo Thông tư số 16/2013/TT-BTC ngày 08/02/2013, hướng dẫn thực hiện việc gia hạn, giảm một số khoản thu Ngân sách Nhà nước theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phú, Bộ Tài Chính có đưa ra khái niệm về DNNVV như sau: „„Doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, bao gồm cả chi nhánh, đơn vị trực thuộc nhưng hạch toán độc lập, hợp tác xã (sử dụng dưới 200 lao động làm việc toàn bộ thời gian năm và có doanh thu năm không quá 200 tỷ đồng) không bao gồm doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực: tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, xổ số, trò chơi có thưởng, sản xuất hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt”. Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ a.
Những thuận lợi của doanh nghiệp vừa và nhỏ - “DNNVV dễ dàng được thành lập với quy mô vốn nhỏ, chi phí thấp, tốc độ quay vòng vốn và hiệu quả cao: do vốn chủ sở hữu của DNNVV không cần nhiều, DN có thể hoạt động kinh doanh trong nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau. DNNVV có thể được thành lập với quy mô nhà xưởng, điều kiện cơ sở hạ tầng và đầu tư thiết bị không lớn, số lượng lao động không nhiều do đó các chi phí bỏ ra ban đầu để bước vào hoạt động nhỏ, DN vẫn có thể tiến hành sản xuất kinh doanh. Hơn nữa cũng chính bởi tính chất quy mô nhỏ trong cả nguồn vốn và lao động, công tác kiểm tra, thanh tra và thay đổi phương hướng sản xuất kinh doanh cho phù hợp và đạt hiệu quả cao cũng được tiến hành nhanh chóng và thuận tiện hơn. - DNNVV dễ dàng đổi mới và ứng dụng trang thiết bị công nghệ.
DNNVV với đầu tư về trang thiết bị và cơ sở sản xuất quy mô nhỏ, khi có sự thay đổi trong phương án kinh doanh, việc đầu tư trang thiết bị mới cũng sẽ không tốn quá nhiều chi phí như DN lớn. Khi DN lớn muốn thay đổi sản phẩm hay thay đổi trang thiết bị, đồng nghĩa với việc phải thay đổi cả dây chuyền sản xuất với nhiều máy móc thiết bị, chi phí mua máy móc mới là rất lớn, việc thanh lý dây chuyền cũ cũng sẽ gặp nhiều khó khăn. Ngược lại, quy mô nhỏ là một lợi thế cho các DNNVV khi thay đổi trang thiết bị và thanh lý máy móc cũ. Với số lượng nhỏ và linh hoạt trong sản xuất, DNNVV vẫn có dây chuyền sản xuất của mình đạt năng suất lao động lớn.
- DNNVV nhạy cảm và thích ứng nhanh với sự thay đổi của thị trường mạnh dạn tham gia những ngành mới: có rất nhiều các DNNVV hoạt động trong lĩnh vực 9 cung cấp hàng hoá dịch vụ, hàng tiêu dùng trực tiếp cho dân chúng, do đó các DN này rất nhạy cảm với việc phát hiện ra các thay đổi trong thị yếu và sở thích người tiêu dùng. Để đáp ứng sự thay đổi đó, DNNVV cũng dễ dàng có những phương án sản xuất mới đáp ứng nhanh nhậy nhu cầu của thị trường, sự thay đổi này không quá khó khăn với các DNNVV vì họ có quy mô kinh doanh nhỏ hơn các công ty lớn. Hàng tồn kho và xử lý hàng tồn kho cũng dễ dàng hơn, khi thay đổi và sản xuất mặt hàng mới. Do vậy hiệu quả kinh doanh của DN cũng tăng lên.
- DNNVV góp phần thúc dẩy phát triển tự do cạnh tranh và các ngành nghề truyền thống, ngành nghề thủ công, mỹ nghệ, phát huy tiềm lực trong nước. Do nước ta là nước sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, tài nguyên thiên nhiên cũng phong phú, nguồn tài nguyên và sự khai thác, sử dụng tài nguyên ở các vùng miền là khác nhau do đó với sự tồn tại của các DNNVV sự sử dụng sẽ đạt hiệu quả hơn. Với các DN lớn, họ cần số lượng đầu vào lớn để sản xuất sản phẩm hàng loạt, tuy nhiên nếu nguồn tài nguyên ở địa phương là không nhiều, sẽ phù hợp với số lượng đầu vào cần thiết cho DNNVV, hay nói cách khác DNNVV sẽ tận dụng và khai thác triệt để hơn các nguyên liệu để sản xuất hàng hoá cho người tiêu dùng, đặc biệt trong các ngành nghề cần yếu tố con người và mang tính chất nghệ thuật như hàng thủ công, mỹ nghệ. Hơn nữa, do tính chất vùng và lãnh thổ, sự tồn tại của các DNNVV đóng góp các nguồn cung khác nhau cho xã hội một cách tự nhiên nhất.
Sự tồn tại và tự do phát triển của DN này không có yếu tố độc quyền sẽ là điều kiện cho tự do cạnh tranh phát triển, đồng thời để cạnh tranh nhau, các DN cũng sẽ chủ động hơn trong tìm tòi, nâng cao năng suất lao động của mình để tồn tại cùng DN khác. Đó là dấu hiệu của sự tăng trưởng kinh tế sau này. Những khó khăn của doanh nghiệp vừa và nhỏ - “DNNVV với nguồn vốn nhỏ, năng lực tài chính hạn chế ảnh hưởng tới kết quả sản xuất kinh doanh. Quy mô nhỏ là lợi thế khi thay đổi và đầu tư trang thiết bị sản xuất.
Tuy nhiên, cũng bởi vậy là đồng nghĩa với việc năng lực tài chính của DN bị hạn chế, do đó khi muốn mở rộng hơn nữa quy mô sản xuất nhằm tăng lợi nhuận DN sẽ gặp nhiều khó khăn. DN sẽ chỉ mua được một số lượng nhất định trang thiết bị phục vụ sản xuất, với các trang thiết bị hiện đại hơn, sẽ là rất khó để DN có thể 10 sở hữu do giá thành của nó cao. Bởi vậy, năng suất lao động và hiệu quả sản xuất của DN không cao. - Bất lợi trong cạnh tranh với các DN lớn cùng ngành nghề, chi phí biến đổi lớn, thị trường hạn chế.
Với các DN lớn, do sản xuất hàng hóa với quy mô lớn, giá thành nguyên liệu đầu vào cũng thấp hơn so với các DN nhỏ, trang thiết bị hiện đại hơn cũng tiết kiệm nhiên liệu hơn, do đó giá thành rẻ hơn so với các DN vừa và nhỏ. Vì vậy DN vừa và nhỏ sẽ gặp nhiều khó khăn nếu có các DN lớn cùng tham gia sản xuất.