Tổng quan luận án
Công trình khoa học "Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng ở nước ta giai đoạn hiện nay" do nghiên cứu sinh Nguyễn Khắc Hà thực hiện tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Lê Kim Việt. Luận án thuộc chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số 62 31 23 01), bảo vệ năm 2014.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Công tác thi đua, khen thưởng (TĐKT) giữ vai trò động lực thúc đẩy các cá nhân, tập thể phát huy sáng tạo, hoàn thành nhiệm vụ chính trị và thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước. Bộ Chính trị và Ban Bí thư đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo quan trọng như Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 03/6/1998, Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 21/5/2004 và Kết luận số 83-KL/TW ngày 30/8/2010 nhằm đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước và kiện toàn tổ chức bộ máy.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý (CBLĐQL) chuyên trách TĐKT vẫn bộc lộ nhiều hạn chế:
- Cơ cấu và số lượng cán bộ chưa thực sự phù hợp; nhiều cán bộ thiếu hụt kiến thức về quản lý nhà nước, pháp luật, kinh tế thị trường dẫn đến lúng túng trong chỉ đạo phong trào và thẩm định hồ sơ khen thưởng.
- Tình trạng một số cơ quan, đơn vị tự đặt ra các hình thức tôn vinh trái quy định của Luật TĐKT, hoặc cá biệt có hiện tượng lợi dụng danh hiệu vì mục đích riêng vẫn chưa được ngăn chặn triệt để.
- Tồn tại sự hẫng hụt thế hệ cán bộ kế cận có trình độ chuyên môn sâu; tiêu chuẩn chức danh còn mang tính chung chung; công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển và kiểm tra, giám sát còn nhiều bất cập; thiếu tính liên thông giữa Ban TĐKT Trung ương với các bộ, ngành và địa phương.
- Khoảng trống nghiên cứu: Trước thời điểm luận án thực hiện, chưa có công trình khoa học nào tiếp cận một cách toàn diện, có hệ thống dưới góc độ chuyên ngành Xây dựng Đảng về đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn, luận án đề xuất hệ thống giải pháp chủ yếu, có tính khả thi nhằm xây dựng đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn tiếp theo.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 4 nội dung cụ thể:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan trực tiếp đến đề tài.
- Luận giải những vấn đề lý luận cơ bản về công tác TĐKT, đội ngũ CBLĐQL chuyên trách TĐKT và nội dung, phương thức xây dựng đội ngũ này.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ và thực trạng công tác xây dựng đội ngũ CBLĐQL chuyên trách TĐKT từ năm 2001 đến thời điểm nghiên cứu; chỉ ra nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và những vấn đề đặt ra.
- Xác định mục tiêu, phương hướng và đề xuất các giải pháp chủ yếu xây dựng đội ngũ CBLĐQL chuyên trách TĐKT có giá trị ứng dụng đến năm 2020.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng ở nước ta giai đoạn hiện nay.
- Phạm vi nội dung và không gian: Khảo sát thực trạng đội ngũ và công tác xây dựng đội ngũ tại các Vụ, Ban, Phòng TĐKT thuộc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương; các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước; và các cơ quan cấp ủy, chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát dữ liệu thực tiễn từ năm 2001 đến năm 2014; các phương hướng và giải pháp đề xuất có giá trị định hướng đến năm 2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật và phân loại khối lượng lớn các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp đến đề tài theo các nhóm chủ đề:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1. Nhóm đề tài khoa học trong nước
- Đề tài cấp Nhà nước KX.09 (2002–2004) của Bộ Nội vụ: "Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng đòi hỏi của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân", tập trung vào quy định pháp lý, trách nhiệm cá nhân và đề xuất đào tạo theo chức danh.
- Đề tài KHXH cấp Nhà nước KX.06 (2001–2005) do Vũ Văn Hiền làm chủ nhiệm: "Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", làm rõ nguyên nhân của những khuyết điểm trong công tác cán bộ.
- Đề tài KHXH cấp Nhà nước KX.07 (2001–2005) do Thang Văn Phúc làm chủ nhiệm: "Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức", hệ thống hóa tư tưởng Hồ Chí Minh và thể chế quản lý cán bộ.
- Đề tài cấp Bộ (2011) do Trần Minh Tuấn làm chủ nhiệm tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh: nghiên cứu đào tạo, bồi dưỡng CBLĐQL theo chức danh, phân định chương trình đào tạo với chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ.
- Đề tài độc lập cấp Nhà nước mã số 02/2010 (2010–2013) do Trần Thị Hà làm chủ nhiệm: "Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn hiện nay", khảo sát hệ thống pháp luật, cơ cấu tổ chức và đề xuất giải pháp kiện toàn bộ máy TĐKT.
2. Nhóm sách chuyên khảo và tài liệu lý luận
- Sách của Trần Xuân Sầm (chủ biên, 1998) và Nguyễn Phú Trọng – Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên, 2001): xác định cơ cấu, tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị đổi mới và luận cứ nâng cao chất lượng cán bộ thời kỳ CNH, HĐH.
- Sách của Trần Đình Hoan (chủ biên, 2008): nghiên cứu công tác đánh giá, quy hoạch, luân chuyển CBLĐQL; phân tích kinh nghiệm luân chuyển, khảo khóa thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn.
- Sách của Trương Thị Thông – Lê Kim Việt (đồng chủ biên, 2008): luận giải bản chất, tác hại và giải pháp phòng chống bệnh quan liêu trong công tác cán bộ.
- Sách của Thân Minh Quế (2012): nghiên cứu quy hoạch cán bộ diện Ban Thường vụ tỉnh ủy quản lý tại các tỉnh miền núi phía Bắc.
3. Nhóm luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và bài báo khoa học
- Luận án của Phạm Công Khâm (2000) về cán bộ chủ chốt cấp xã ở Đồng bằng sông Cửu Long; công trình về cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh ở Đồng bằng sông Hồng; công trình về bí thư huyện ủy, chủ tịch UBND huyện (1996–2003); luận án của Trịnh Thanh Tâm (2012) về cán bộ nữ cấp xã ở Đồng bằng sông Hồng; luận án của Nich Khăm (2013) về cán bộ Hội Liên hiệp phụ nữ Lào.
- Bài báo của các tác giả: Võ Văn Kiệt (2005) về quản lý cán bộ sâu sát; Trần Đình Hoan (2002) về luân chuyển cán bộ; Nguyễn Trọng Điều (2005) về đánh giá, quy hoạch; Nguyễn Thế Thắng (2011, 2012) về tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm Mác - Lênin đối với TĐKT; Nguyễn Thị Doan (2013) và Trần Thị Hà (2013) về định hướng công tác TĐKT nhân kỷ niệm 65 năm Lời kêu gọi thi đua ái quốc; Trần Thị Thu Hà (2014) về giải pháp TĐKT tại Bộ Khoa học và Công nghệ; Chu Hảo (2002) về tiêu chuẩn lãnh đạo thời kỳ kinh tế tri thức.
4. Công trình nghiên cứu và kinh nghiệm quốc tế
- Trung Quốc: Công trình của Nguyễn Duy Hùng – Lê Văn Yên (2009), Trịnh Cư – Nguyễn Duy Hùng – Lê Văn Yên (2009); sách dịch của Đỗ Tiến Sâm (2006) về quy chế luân chuyển cán bộ; các tham luận của Triệu Gia Kỳ, Tôn Hiểu Quần, Chu Phúc Khởi, Giả Cao Kiến (2004). Tác giả tổng kết kinh nghiệm Trung Quốc về quy phạm hóa công tác cán bộ, thẩm tra đánh giá, thi tuyển cạnh tranh chức danh từ năm 1994 (áp dụng toàn quốc từ 2001) và thăm dò công luận trước khi bổ nhiệm.
- Các nước tư bản (Nga, Pháp, Úc...): Kinh nghiệm đào tạo bài bản theo vị trí việc làm, quy định bắt buộc thời gian đi thực tế hàng năm đối với công chức khen thưởng để phát hiện bất cập chính sách; mô hình tổ chức khen thưởng cấp trung ương trực thuộc Văn phòng Tổng thống (Nga), Phủ Tổng thống (Pháp), Ban Thư ký thuộc Toàn quyền (Úc).
- Nhật Bản: Chế độ sử dụng nhân sự suốt đời, đề cao tinh thần tập thể, đào tạo phát triển năng lực tổng hợp và đánh giá qua thành tích tập thể cùng sự tín nhiệm đồng cấp.
- Lào: Nghiên cứu của On Kẹo Phôm Ma Kon (2012) và Đề án của Bộ Chính trị (2014) về việc khắc phục tư tưởng phân tán, dòng họ của kinh tế tự cấp tự túc, gắn xây dựng cán bộ với phong trào quần chúng.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Mặc dù các công trình trên đã nghiên cứu nhiều khía cạnh về cán bộ và công tác TĐKT, nhưng chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu tổng thể về đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT từ góc độ xây dựng Đảng, làm rõ các khâu từ tiêu chuẩn, quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo theo chức danh đến luân chuyển dọc và kiểm tra, giám sát.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và khung khái niệm
- Cơ sở lý luận: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác cán bộ và công tác TĐKT.
- Khái niệm thi đua: Hoạt động tự nguyện, có tổ chức diễn ra trong tất cả các tổ chức, các ngành, các cấp, các lĩnh vực đời sống xã hội nhằm đạt kết quả tốt nhất, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Luận án phân biệt rõ giữa thi đua yêu nước (động cơ cống hiến vì tập thể, đất nước) và cạnh tranh (nặng về động cơ cá nhân, chiếm ưu thế cục bộ).
- Khái niệm khen thưởng: Việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và thành tích xuất sắc của cá nhân (từ 11 tuổi trở lên), tập thể trong học tập, lao động, chiến đấu và công tác. Dẫn chứng tư tưởng khen thưởng lịch sử qua Đại Việt sử ký toàn thư và Quốc lệnh ngày 26/01/1946 gồm 10 điều do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký.
- Mối quan hệ biện chứng: "Thi đua là gieo trồng, khen thưởng là thu hoạch". Khen thưởng chính xác, công bằng, kịp thời là động lực thúc đẩy thi đua; thi đua là cơ sở thực tiễn để thực hiện khen thưởng.
- Khái niệm xây dựng đội ngũ CBLĐQL chuyên trách TĐKT: Toàn bộ hoạt động của các cấp ủy đảng, cơ quan nhà nước, đoàn thể và tổ chức liên quan trong việc thực hiện các khâu của công tác cán bộ nhằm hình thành đội ngũ có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, năng lực quản lý, tham mưu và trình độ chuyên gia trong lĩnh vực TĐKT.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp logic kết hợp phương pháp lịch sử.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý luận.
- Phương pháp thống kê, khảo sát, điều tra xã hội học và tổng kết thực tiễn.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia trong ngành tổ chức và TĐKT.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ các văn kiện của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước; các báo cáo tổng kết của Ban TĐKT Trung ương, Bộ Nội vụ, các Vụ/Ban/Phòng TĐKT của các bộ, ban, ngành, tập đoàn kinh tế nhà nước và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong giai đoạn 2001–2014.
Nội dung chính theo từng chương
| Chương |
Tên chương theo văn bản luận án |
Nội dung cốt lõi và luận điểm chính |
| Chương 1 |
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài |
Đánh giá toàn diện các công trình khoa học trong và ngoài nước; phân tích các bài học lịch sử và kinh nghiệm quốc tế; xác định khoảng trống nghiên cứu về CBLĐQL chuyên trách TĐKT. |
| Chương 2 |
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng ở nước ta giai đoạn hiện nay |
Luận giải bản chất, vai trò, đặc điểm công tác TĐKT; đánh giá thực trạng đội ngũ và công tác cán bộ ngành TĐKT giai đoạn 2001–2014; chỉ rõ ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân. |
| Chương 3 |
Phương hướng và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng đến năm 2020 |
Xác định mục tiêu, yêu cầu, nguyên tắc và đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ, trong đó nhấn mạnh 2 giải pháp then chốt về quy hoạch, tạo nguồn và đào tạo, luân chuyển dọc. |
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương này tập trung phân tích 5 nhóm tư liệu khoa học. Tác giả chỉ ra các điểm kế thừa quan trọng từ các công trình đi trước, bao gồm việc xây dựng tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo theo chức danh (đề tài KX.09, đề tài của Trần Minh Tuấn), phương pháp phòng chống quan liêu trong công tác cán bộ (Trương Thị Thông, Lê Kim Việt), và phương pháp luận về TĐKT (Trần Thị Hà).
Chương 1 cũng tổng kết kinh nghiệm dùng người qua các triều đại phong kiến Việt Nam:
- Thời nhà Lý (1009–1015) bắt đầu thực hiện điều động quan lại.
- Thời nhà Trần (1225–1400) áp dụng chế độ khảo khóa nghiêm ngặt: cứ 15 năm xét duyệt 2 lần, nếu không vi phạm thì sau 10 năm thăng tước một cấp, 15 năm thăng một bậc; xử phạt nghiêm cả người hoàng tộc.
- Thời nhà Lê quy định luân chuyển 4 năm/lần; thời nhà Nguyễn quy định luân chuyển 6 năm/lần; áp dụng nguyên tắc luân chuyển dọc, ngang và không bố trí người địa phương cai trị tại quê hương.
Về kinh nghiệm quốc tế, tác giả đúc kết 4 bài học chính:
- Đào tạo bài bản theo chức danh và áp dụng cơ chế bắt buộc đi thực tế hàng năm (kinh nghiệm các nước tư bản).
- Xây dựng quy phạm nghiêm ngặt, thi tuyển cạnh tranh và thăm dò ý kiến quần chúng trước khi bổ nhiệm (kinh nghiệm Trung Quốc).
- Đánh giá cán bộ thông qua kết quả tập thể và sự tín nhiệm của đồng cấp (kinh nghiệm Nhật Bản).
- Khắc phục triệt để tư tưởng dòng họ, cục bộ địa phương trong công tác cán bộ (kinh nghiệm CHDCND Lào).
Chương 2: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng ở nước ta giai đoạn hiện nay
Chương 2 làm rõ hai đặc điểm nổi bật của công tác TĐKT ở nước ta:
- Đặc điểm thứ nhất: Là hoạt động liên quan đến đông đảo nhân dân, mang tính quần chúng sâu sắc, diễn ra trên phạm vi rộng lớn và liên tục theo thời gian.
- Đặc điểm thứ hai: Là hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy đảng.
Đánh giá thực trạng giai đoạn 2001–2014, chương này chỉ ra:
- Ưu điểm: Đội ngũ cán bộ từng bước được kiện toàn về số lượng và cơ cấu; trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ được nâng lên; bản lĩnh chính trị vững vàng, tích lũy được nhiều kinh nghiệm thực tiễn qua các phong trào thi đua lớn.
- Hạn chế: Tiêu chuẩn chức danh chưa được lượng hóa rõ ràng; công tác quy hoạch còn lúng túng; thiếu sự liên thông cán bộ giữa Ban TĐKT Trung ương với các địa phương; nhiều cán bộ còn hạn chế kiến thức pháp luật và quản lý nhà nước dẫn đến sai sót trong thẩm định khen thưởng; tình trạng hẫng hụt cán bộ kế cận có năng lực chuyên môn cao.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng đến năm 2020
Dựa trên mục tiêu và nhiệm vụ đề ra, tác giả luận giải các phương hướng và hệ thống giải pháp toàn diện:
- Cụ thể hóa hệ thống tiêu chuẩn chức danh CBLĐQL chuyên trách TĐKT cho từng cấp, từng ngành.
- Nâng cao chất lượng công tác đánh giá, quy hoạch, tạo nguồn dự bị, đặc biệt là nguồn cán bộ trẻ, cán bộ nữ và cán bộ có trình độ chuyên môn cao.
- Đổi mới nội dung, phương thức đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh tại Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ thuộc Ban TĐKT Trung ương; gắn đào tạo lý luận với bồi dưỡng kỹ năng thẩm định, thanh tra, kiểm tra.
- Thực hiện luân chuyển cán bộ theo chiều dọc giữa Ban TĐKT Trung ương với các bộ, ngành và địa phương nhằm rèn luyện thực tiễn và chuẩn bị nhân sự kế cận.
- Hoàn thiện cơ chế quản lý, kiểm tra, giám sát; thực hiện chính sách đãi ngộ hợp lý và tăng cường kỷ luật kỷ cương nhằm phòng ngừa các sai phạm trong thẩm định hồ sơ khen thưởng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về lý luận
- Xây dựng và hoàn thiện khái niệm: Luận án đưa ra định nghĩa khoa học về "Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng", xác định rõ chủ thể thực hiện (các cấp ủy đảng, cơ quan nhà nước, đoàn thể), nội dung (các khâu của công tác cán bộ) và mục tiêu (hình thành đội ngũ có phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực lãnh đạo, quản lý và trình độ chuyên gia).
- Khái quát 3 bài học kinh nghiệm từ thực tiễn giai đoạn 2001–2014:
- Một là: Cấp ủy địa phương, đơn vị phải nhận thức đúng đắn về vai trò của công tác TĐKT và tầm quan trọng của việc xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách; có quyết tâm chính trị cao trong lãnh đạo, chỉ đạo.
- Hai là: Cấp ủy cần tranh thủ sự chỉ đạo của cấp trên và phối hợp chặt chẽ với Ban TĐKT Trung ương trong mọi khâu của công tác cán bộ, đặc biệt là đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh để nâng cao tính chuyên nghiệp.
- Ba là: Coi trọng công tác tạo nguồn và quy hoạch cán bộ; mạnh dạn đưa cán bộ trẻ có trình độ, năng lực, triển vọng vào nguồn dự bị các chức danh lãnh đạo, quản lý công tác TĐKT.
Đóng góp mới về thực tiễn và giải pháp
Luận án xác định 2 giải pháp then chốt nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ:
- Tăng cường công tác tạo nguồn và quy hoạch: Xây dựng quy hoạch cán bộ bài bản, chủ động phát hiện nhân tố tích cực từ cơ sở, đảm bảo tính liên tục, khắc phục tình trạng hẫng hụt thế hệ cán bộ lãnh đạo, quản lý TĐKT.
- Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng và luân chuyển cán bộ theo chiều dọc: Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu theo vị trí việc làm và thực hiện cơ chế luân chuyển cán bộ giữa Ban TĐKT Trung ương với các Vụ, Ban, Phòng TĐKT ở các bộ, ngành và địa phương để tích lũy kinh nghiệm quản lý nhà nước và xử lý thực tiễn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát chủ yếu ở cấp Trung ương, các bộ, ban, ngành, tập đoàn kinh tế nhà nước và cấp tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương; phạm vi số liệu thực tiễn dừng ở mốc năm 2014. Do tính chất chuyên ngành Xây dựng Đảng, luận án tiếp cận trọng tâm dưới góc độ tổ chức cán bộ, chưa phân tích sâu khía cạnh tâm lý học quản lý hành vi cán bộ TĐKT.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Đánh giá hiệu quả triển khai mô hình luân chuyển liên thông dọc giữa Trung ương và địa phương trong giai đoạn sau năm 2020.
- Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin và cơ sở dữ liệu số quốc gia trong công tác quản lý cán bộ và quy trình thẩm định hồ sơ thi đua, khen thưởng.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:
- Cấp ủy đảng, cơ quan quản lý nhà nước: Các Ban Tổ chức cấp ủy, Sở Nội vụ, Ban TĐKT các tỉnh, thành phố và Vụ Thi đua - Khen thưởng các bộ, ngành sử dụng để xây dựng quy hoạch, quy chế luân chuyển và tiêu chuẩn chức danh cán bộ TĐKT.
- Cơ sở đào tạo, bồi dưỡng: Ban TĐKT Trung ương và Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ ngành TĐKT làm tài liệu giảng dạy, biên soạn chương trình bồi dưỡng theo chức danh.
- Giới nghiên cứu và đào tạo: Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Xây dựng Đảng, Quản lý hành chính công và Khoa học Chính trị tham khảo về phương pháp luận và khung phân tích công tác cán bộ chuyên ngành.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa thế nào về "Xây dựng đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT"?
Theo luận án, đây là toàn bộ hoạt động của các cấp ủy đảng từ Trung ương đến cơ sở, ở ban, bộ, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân ở trung ương, ở các tổng công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước, cán bộ, đảng viên và các tổ chức có liên quan về thực hiện các khâu của công tác cán bộ nhằm tạo nên đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT có phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực lãnh đạo, quản lý và tham mưu đề xuất, là những chuyên gia trong lĩnh vực TĐKT.
2. Sự khác nhau căn bản giữa thi đua và cạnh tranh được luận án phân tích ra sao?
Luận án chỉ rõ: Cả hai đều có điểm tương đồng là thúc đẩy cá nhân, tập thể nỗ lực đạt kết quả cao. Tuy nhiên, điểm khác biệt căn bản nằm ở động cơ và mục đích. Thi đua yêu nước xuất phát từ động cơ cống hiến vì lợi ích chung của tập thể, của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngược lại, cạnh tranh thường nặng về động cơ lợi ích cá nhân hoặc nhóm cục bộ nhằm chiếm ưu thế vượt trội, nếu là cạnh tranh không lành mạnh có thể dẫn đến triệt tiêu lẫn nhau và gây tổn hại xã hội.
3. Kinh nghiệm lịch sử Việt Nam về luân chuyển và đánh giá quan lại được luận án tổng kết như thế nào?
Luận án điểm lại: Chế độ luân chuyển bắt đầu từ thời nhà Lý; thời nhà Trần quy định khảo khóa 15 năm xét duyệt 2 lần (sau 10 năm thăng tước một cấp, 15 năm thăng một bậc); thời nhà Lê quy định luân chuyển 4 năm/lần; thời nhà Nguyễn quy định 6 năm/lần. Các triều đại áp dụng nguyên tắc luân chuyển dọc (trung ương - địa phương), luân chuyển ngang, và không bố trí quan lại cai trị tại chính quê hương bản quán.
4. Đâu là hai giải pháp then chốt được tác giả đề xuất để nâng cao chất lượng đội ngũ?
Hai giải pháp then chốt gồm: (1) Tăng cường công tác tạo nguồn và quy hoạch CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT, chủ động đưa cán bộ trẻ có trình độ, triển vọng vào nguồn dự bị; (2) Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh và luân chuyển cán bộ theo chiều dọc giữa Ban TĐKT Trung ương với các bộ, ban, ngành và địa phương.
Kết luận
Luận án "Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng ở nước ta giai đoạn hiện nay" của tác giả Nguyễn Khắc Hà là công trình khoa học chuyên ngành Xây dựng Đảng, giải quyết một cách có hệ thống cả về lý luận và thực tiễn việc xây dựng đội ngũ cán bộ ngành TĐKT. Công trình đã làm rõ khung khái niệm, chỉ ra các đặc điểm đặc thù, đánh giá đúng thực trạng đội ngũ giai đoạn 2001–2014 và đúc kết các bài học kinh nghiệm từ lịch sử cũng như quốc tế. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án mang tính khả thi cao, đóng góp thiết thực cho công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và luân chuyển đội ngũ cán bộ TĐKT đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước.