Chương 1: Tổng quan của vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa của doanh nghiệp và Hiệp định Thương mại tự do Chương 3: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu nhôm thanh định hình sang thị trường Châu Âu của công ty TNHH sản xuất Nhôm Trường Thành trong bối cảnh thực thi Hiệp định EVFTA Chương 4: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu nhôm thanh định hình sang thị trường Châu Âu của công ty TNHH sản xuất Nhôm Trường Thành trong bối cảnh thực thi Hiệp định EVFTA 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA DOANH NGHIỆP VÀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO 2.1 Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa của doanh nghiệp 2.1 Một số khái niệm ● Khái niệm về xuất khẩu Có rất nhiều quan điểm, khái niệm về hoạt động xuất khẩu được đưa ra. Theo Luật thương mại số 36/2005/QH11 năm 2005 của Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì xuất khẩu được định nghĩa như sau: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” Theo Paul A Samuelson nhận định trong cuốn Kinh tế học: “Xuất khẩu là hàng hoá và dịch vụ được sản xuất trong nước và bán sang nước khác.” Nhận định về cơ bản đã nêu được những đặc điểm của xuất khẩu gồm có đối tượng của xuất khẩu là hàng hoá và dịch vụ và phạm vi của hoạt động xuất khẩu không giới hạn về không gian. Tuy nhiên, do hàng hoá và dịch vụ được sản xuất trong nước, nên nhận định này chưa bao quát hết các hình thức xuất khẩu như hình thức tạm nhập tái xuất. Theo Feenstra và Taylor (Giáo trình Thương mại quốc tế, 2010): “Các quốc gia mua và bán hàng hoá, dịch vụ từ nhau.
Xuất khẩu là sản phẩm được bán từ nước này sang nước khác.” Từ những nhận định trên, xuất khẩu có thể được hiểu là hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài hoặc khu vực đặc biệt trên lãnh thổ quốc gia nhằm khai thác triệt để lợi thế của quốc gia dựa trên cơ sở phân công lao động, chuyên môn hóa sản xuất. Do đó, hoạt động sản xuất và thương mại diễn ra hiệu quả hơn. Cùng với sự phát triển, tiếp thu và chuyển giao công nghệ giữa các nước giúp cho hoạt động thương mại diễn ra sâu rộng. Xuất khẩu đóng vai trò quan trọng tới sự phát triển của nền kinh tế nói chung và thúc đẩy nền kinh tế quốc gia nói riêng.
● Khái niệm về cạnh tranh Xét theo khía cạnh kinh tế, thương mại, ta có một số quan điểm sau: Theo Giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin (2019) đưa ra khái niệm: “Cạnh tranh là sự ganh đua giữa những chủ thể kinh tế với nhau nhằm có được những ưu thế về sản xuất cũng như tiêu thụ và thông qua đó mà thu được lợi ích tối đa”.Nordhaus (1989): “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường”. Cạnh tranh tạo ra năng suất nhằm giành lấy thị phần. Khái niệm cạnh tranh được sử dụng 6 trong cả phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia, phạm vi doanh nghiệp, phạm vi ngành và phạm vi sản phẩm. Trong khi đối với một doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia hay quốc tế, thì đối với một quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân.
Từ những định nghĩa như trên, có thể rút ra rằng: Cạnh tranh là quá trình đấu tranh giữa các chủ thể kinh tế nhằm hướng đến đạt được những mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và thỏa mãn mong muốn như chiếm lĩnh thị phần, giành khách hàng với mức chi phí thấp nhất tiến đến nâng cao vị thế của mình trên thị trường. ● Khái niệm về năng lực cạnh tranh Trong Báo cáo thường niên về cạnh tranh của National Competitiveness Council (2004), năng lực cạnh tranh được định nghĩa là khả năng đạt được thành công trên các thị trường dẫn đến mức sống tốt hơn cho tất cả mọi người. Nó bắt nguồn từ một số yếu tố, đặc biệt là năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp và môi trường kinh doanh hỗ trợ khuyến khích đổi mới và đầu tư, kết hợp dẫn đến tăng trưởng năng suất mạnh mẽ, tăng thu nhập thực tế và phát triển bền vững. Theo quan điểm quản trị chiến lược của Michael Porter, “ Năng lực cạnh tranh là khả năng sáng tạo ra những sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị gia tăng cao phù hợp với nhu cầu khách hàng, với chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng lợi nhuận.” Theo Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp (HLFIC) của OECD, 2009 lại cho rằng: “Năng lực cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, các ngành, các vùng, các quốc gia hoặc khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế trên cơ sở bền vững”.
Theo đó, định nghĩa về NLCT được xem xét dưới góc độ quốc gia, doanh nghiệp và cả cấp độ ngành. Ta có thể khái quát lại rằng, năng lực cạnh tranh là khả năng duy trì lợi thế so sánh, tạo ra sản phẩm giá trị cao hơn đối thủ, giúp doanh nghiệp nâng cao lợi thế để cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm và mở rộng thị phần. ● Khái niệm về năng lực cạnh tranh xuất khẩu Trong bối cảnh hội nhập quốc tế của khu vực, hoạt động xuất nhập diễn ra ngày càng mạnh mẽ và các sản phẩm xuất khẩu phải chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các quốc gia khác. Năng lực cạnh tranh xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc thâm nhập thị trường nước ngoài của doanh nghiệp cũng như mở rộng quy mô của thị trường.
Tuy nhiên, vẫn chưa có một khái niệm cụ thể về năng lực cạnh tranh xuất khẩu. Trong đề tài này, ta có thể hiểu năng lực cạnh tranh xuất khẩu là khả năng của một quốc gia, của ngành của doanh nghiệp trong việc sản xuất và cung cấp hàng hóa 7 ra thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng thị trường dưa trên các yếu tố định tính (chất lượng, thương hiệu, mẫu mã sản phẩm,…) và yếu tố định lượng (giá bán, sản lượng, doanh thu),… của sản phẩm trong việc thích ứng với nhu cầu của quốc gia nhập khẩu.2 Vai trò của nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa của doanh nghiệp Quá trình hội nhập sâu rộng giữa các quốc gia đem tới nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp trong việc mở rộng thị trường, tăng trưởng kinh tế. Đi kèm với đó các doanh nghiệp cũng phải chịu sự cạnh tranh của các doanh nghiệp cùng ngành, và việc nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa của doanh nghiệp đóng một vai trò vô cùng quan trọng tới sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp. Tăng trưởng doanh thu và mở rộng thị trường quốc tế: Nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu giúp doanh nghiệp có khả năng sản xuất hàng hóa với chất lượng cao và giá thành hợp lý, nhờ đó dễ dàng thâm nhập vào các thị trường quốc tế.
Việc tăng cường sức tranh giúp doanh nghiệp sử dụng lĩnh vực thị phần lớn hơn trên thị trường nước ngoài, đồng thời cung cấp tăng trưởng doanh thu từ xuất khẩu. Khi mở rộng thị trường, doanh nghiệp cũng sẽ giảm sự phụ thuộc vào thị trường trong nước, đồng thời tối ưu hóa các cơ sở kinh doanh quốc tế. Nâng cao vị trí và uy tín của doanh nghiệp: Doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao thường xuyên đáp ứng được các tiêu chuẩn vững chắc của thị trường quốc tế, từ đó tạo ra được uy tín và thương hiệu mạnh mẽ. Điều này không chỉ giúp doanh nghiệp duy trì và phát triển quan hệ với khách hàng hiện tại mà còn thu hút thêm nhiều khách hàng và đối tác mới.
Sự uy tín và thương hiệu mạnh trên thị trường quốc tế góp phần tạo ra lợi ích dài hạn cho doanh nghiệp, giúp duy trì sức mạnh cạnh tranh bền vững trước các đối thủ khác. Thúc đẩy đổi mới và phát triển bền vững: Nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu yêu cầu doanh nghiệp phải liên tục đầu tư vào công nghệ, nâng cấp quy trình sản xuất, và cải tiến sản phẩm để đáp ứng nhu cầu trường đa dạng. Quá trình này không chỉ giúp doanh nghiệp cải thiện năng suất mà còn cung cấp sự sáng tạo, đổi mới và tăng cường năng lực quản trị. Đồng thời, nó cũng khuyến khích doanh nghiệp phát triển bền vững hơn thông tin về tối ưu hóa nguồn lực, giảm thiểu tác động đến môi trường, và tăng cường tinh thần trách nhiệm xã hội trong chuỗi giá trị toàn cầu.2 Cơ sở lý luận về Hiệp định thương mại tự do 2.1 Khái niệm về Hiệp định thương mại tự do Theo Bộ Công thương( trích trong “Số Tay FTA”), FTA là từ viết tắt của cụm từ Free Trade Area dịch ra có nghĩa là Hiệp định thương mại tự do.
Đây là một hình 8 thức liên kết quốc tế giữa các quốc gia và nhờ các hiệp định này mà các rào cản về thuế quan và phi thuế quan sẽ được giảm hoặc xóa bỏ. Nhờ có các hiệp định thương mại tự do mà các quốc gia trên thế giới có thể từng bước hình thành một thị trường buôn bán thống nhất về hàng hóa và dịch vụ.2 Nội dung chính của FTA Thông thường các FTA sẽ có những nội dung chính sau đây: Thứ nhất là những quy định về việc cắt giảm hàng rào thuế quan và phi thuế quan. Theo đó, mỗi quốc gia tham gia ký thỏa thuận FTA đều phải cam kết cắt giảm và xóa bỏ hàng rào thuế quan. Đồng thời, cho phép các hàng hóa dịch vụ giữa các nước thành viên được xuất nhập khẩu.
Thứ hai là quy định danh mục những mặt hàng được đưa vào cắt giảm thuế quan. Loại hàng hóa dịch vụ được đưa vào ký kết sẽ phụ thuộc vào kết quả của hoạt động đàm phán. Có một số loại thuế nhạy cảm sẽ cắt giảm chậm hơn hoặc không được cắt giảm. Thứ ba là quy định về thời gian cắt giảm thuế xuất nhập khẩu.
Các Hiệp định thương mại tự do phải có phần mục nội dung quy định rõ ràng về khoảng thời gian hay lộ trình áp dụng cắt giảm thuế.