mở đầu cho một giai đoạn thanh trừ tôn giáo đẫm máu kéo dài cho đến thời hoàng đế Constantine I. Với một Kitô hữu, những đau khổ mà họ nếm trải cũng chỉ giống như là đấng Jesus tối cao của họ đã nếm trải. Họ tin vào sự phục sinh trở lại cũng 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com như đấng Jesus đã thực sự phục sinh trở lại. Và như thế, con đường đau khổ mà cộng đồng Kitô hữu đã đi qua suốt chiều dài 300 năm cũng là con đường mà đấng Jesus đã đi, trên đường đến với Nước Chúa, đến với sự Phục Sinh.
Điều đó có nghĩa rằng các cuộc bách hại chỉ là những đau khổ mà họ phải chịu đựng trên đường tới Nước Chúa mà thôi, giống như dụ ngôn của Thiên Chúa với ông Abraham: “Ngươi phải biết rằng: dòng dõi của ngươi sẽ trú ngụ trong một đất không phải của chúng. Chúng sẽ làm tôi người ta và người ta sẽ hành hạ chúng bốn trăm năm. Nhưng Ta sẽ xét xử dân tộc chúng phải làm tôi, và sau đó chúng sẽ ra đi với nhiều tài sản” [18, 55] Sự kiện hoàng đế Constantine I cùng với các hoàng đế phương Đông ký kết chiếu chỉ Milan vào năm 313 đã chấm dứt thời kỳ bách hại khốc liệt của các bậc đế vương đối với Kitô giáo, xác lập quyền tự do tôn giáo đối với các tín hữu Kitô trên toàn thế giới. Kitô giáo đã giữ vững được sự đồng thuận trong cộng đồng tín hữu của mình cũng như các giáo lý nền tảng đến thế kỷ này không chỉ vì niềm tin duy nhất vào sự thống nhất các dân tộc trên toàn thế giới dưới quyền năng Thiên Chúa mà còn vì niềm tin vào sự bất diệt của Đạo.
Mỗi cuộc bách hại khốc liệt giáng xuống một cộng đồng Kitô hữu đều cướp đi sinh mạng của ít nhất là một người truyền giáo. Nhưng sau mỗi cuộc bách hại, sức mạnh của niềm tin lại càng được gia tăng thêm, vững chắc hơn, bởi những người tử vì đạo kia là hiện thân cho niềm hy vọng vào sự phục sinh trở lại. Và bởi vì đấng Jesus Christ chính là minh chứng xác tín nhất cho sự phục sinh thần thánh đó. “Vào năm 324, sau khi hoàng đế Constantine I bình định xong phần phía đông của La Mã và tự công nhận mình là người theo đạo Cơ Đốc (Kitô), ông đã cho xây dựng trên vùng lãnh thổ Byzantine một thành phố và trong thành phố này, ông cho xây dựng một nhà thờ thờ thánh Sophia.
Bên cạnh đó, hoàng đế Constantine I còn trao thành phố Constantinople trở thành thành 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phố thủ phủ của đạo Cơ Đốc trong vòng 1000 năm. Constantine đã coi việc thiết lập sự thống nhất trong hàng ngàn những thần dân theo đạo Cơ Đốc là trách nhiệm cứu tinh của mình.” [34, 67] Hoàng đế Constantine I và những đời hoàng đế nối dõi ngài đã dần loại trừ những tôn giáo khác, đưa Kitô giáo lên vị trí quốc giáo (năm 380), kêu gọi cộng đồng tín hữu liên kết lại dưới một mái nhà tôn giáo chung cho tất thảy mọi người. Đạo Kitô trở nên hấp dẫn như vậy là do ngay từ khi vươn ra khỏi Do Thái giáo, Kitô giáo đã có xu hướng thu nạp vào nó những giá trị nhân đạo tốt đẹp, thích ứng với đời sống tình cảm của con người. Người ta tìm thấy ở hình ảnh Đức Chúa Jesus đau khổ hình ảnh của nỗi thống khổ và đồng thời cũng là hình ảnh của sự cứu rỗi, rằng đấng Jesus sinh ra để gánh đỡ mọi tội lỗi cho loài người và cũng là để cứu rỗi loài người.
Hoàng đế Constantine I, tuy cải đạo Kitô nhưng trong tâm trí ông vẫn xảy ra cuộc đấu tranh giữa Thần Mặt Trời và Chúa su Jesus Christ. Cuối cùng thì ông cũng ra chiếu chỉ phán quyết rằng ngày lễ Thần Mặt Trời cũng là ngày tháng thích hợp để tổ chức Lễ Giáng Sinh của Jesus Christ. Trong hệ tư tưởng của đạo Kitô, người ta cũng tìm thấy tinh thần tôn kính Người Mẹ và niềm hy vọng vào sự trường tồn bất diệt ở đạo Kibela và Ixida trong hình ảnh của Đức Mẹ Đồng Trinh Maria và đấng Cứu Thế Jesus Christ. Trên đỉnh cao của sự tôn vinh đó, một nền khoa học thần học Kitô dần hình thành.
Giáo dục trong hệ nhà thờ không chỉ dừng lại ở việc truyền dạy giáo lý mà còn truyền dạy cả những khoa học khác như y học, triết học và luật học. Các cuộc tranh biện thần học tuy có gây ra những cách hiểu khác nhau về bản thể của Thiên Chúa trong các cộng đồng nhỏ nhưng về cơ bản Kitô giáo vẫn phát triển theo hướng thống nhất, dựa vào Kinh thánh và giáo luật được ghi trong Kinh thánh. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chính thống giáo trong hệ thống giáo hội Chính thống giáo tách ra khỏi Kitô giáo nguyên thủy từ thế kỷ thứ XI, sau sự kiện rút phép thông công lẫn nhau giữa Giáo hội La Mã và Giáo hội Constantine do bất đồng quan điểm về giáo lý Ba ngôi, về đời sống của giới tăng lữ, các kỳ nghi lễ hay những hoạt động khác của Giáo hội.
Sự kiện ly giáo này chính thức đánh dấu sự tan rã của Đế chế La Mã, chia giáo hội Kitô giáo nguyên thủy, lúc đó với tư cách là giáo hội thống nhất, thành Giáo hội Công giáo phương Tây và Chính thống giáo phương Đông. Giáo hội Công giáo phương Tây liên kết với La Mã, chịu ảnh hưởng trực tiếp từ văn hóa Latin trong khi giáo hội Chính thống giáo phương Đông ngày càng có xu hướng hướng về Hy Lạp. Tính chất Đông – Tây thật ra vừa là do sự định danh về mặt địa lý giữa hai khu vực có sự phổ biến hơn của mỗi giáo phái vừa là do sự khác biệt văn hóa du nhập từ văn hóa bản địa vào hệ tư tưởng của mỗi giáo phái. Trong khi Công giáo phương Tây trở thành một giáo hội toàn năng, có tầm ảnh hưởng quan trọng đến đời sống chính trị, kinh tế, tinh thần của toàn thế giới, chủ trương liên kết các cộng đồng giáo phận riêng thành một khối chặt chẽ thì Chính thống giáo phương Đông vẫn tồn tại với tư cách là các giáo phận gần như độc lập.
Giáo trưởng của giáo phận này không có quyền kiểm soát hay can thiệp vào công việc của giáo phận khác. Công giáo phương Tây thiết lập chế độ phân quyền mà đứng đầu là Giáo hoàng, coi Giáo hoàng như là người được ban quyền cao nhất, là hiện thân của Chúa và là người kế thừa sự mặc khải. Chính thống giáo phương Đông, ngược lại, coi sự Mặc khải từ Thiên Chúa là đồng đều cho tất cả mọi người. Theo đó, Chúa mới là người đứng đầu còn Giáo hội là bản thể của người, mọi giáo hữu đều phụng sự và tôn vinh Thiên Chúa thông qua việc cầu nguyện và tuân theo giáo luật.
14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sự khác biệt lớn nhất của giáo lý Chính thống giáo so với giáo lý Công giáo là ở học thuyết về Chúa Ba ngôi , trong đó Đức Chúa Thánh Linh đứng ở Ngôi thứ ba, được hiểu là khởi phát từ Đức Chúa Cha và ngang bằng Chúa Cha và Chúa Con và cũng là Chúa Chân Thực. Trong Phúc Âm, Đức Thánh Linh thường hiện ra cùng với Chúa Con là Đức Jesus và được xem như là hiện thân của Chúa Cha là Thiên Chúa. Sách Phúc Âm Mathew có kể về việc khi Đức Jesus chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì các tầng trời mở ra. Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người.
Lúc đó có tiếng từ phán rằng: “Đây là con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người.” Điều này ngụ ý rằng khi Đức Jesus chịu phép rửa nghĩa là Người đã đồng hóa mình với dân của Người. Và lời của Đức Thánh Linh có nghĩa rằng Đức Chúa Cha trao sứ mạng cho Chúa Jesus, Chúa Jesus sẽ là Con và là tôi tớ của Chúa Cha. Và như vậy Đức Thánh Linh cũng đồng thời là Ngôn sứ của Chúa Cha đến với Chúa Con, hiện thân bảo đảm tình yêu mà Thiên Chúa ban tặng cho loài người. Theo giáo lý Chính thống giáo, Đức Chúa Cha, Đức Chúa Thánh Linh và Đức Chúa Con cùng tạo thành Ba ngôi thống nhất, không phân chia được xét về bản chất của mình và ngang bằng nhau xét về phẩm cách thánh thần.
Đức Thiên Chúa là ngôi thứ nhất và là thần vĩnh hằng, nhân hậu, hiện diện ở khắp nơi, toàn năng và toàn quyền quyết định mọi sự vận hành, vận động của thế giới. Thiên Chúa là Chúa tối cao sáng tạo ra trời đất, tạo vật, con người và như vậy Thiên Chúa sẽ bảo vệ cũng như dẫn dắt con người theo điều mà Chúa muốn. Con người phải ngợi ca, tôn kính Chúa để được Chúa ban phúc và để được hạnh phúc. Chúa Jesus đứng ở Ngôi thứ hai, được Đức Mẹ Maria là người trần sinh ra và được thụ hưởng sự mặc khải của Thiên Chúa, là hiện thân Người 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của Thiên Chúa và cũng vĩnh hằng như cha của mình.
Chúa Jesus được gửi đến thế giới người để thay mặt Thiên Chúa dẫn dắt con người đi theo lẽ phải, hướng dẫn con người sám hối để chuộc tội trước Thiên Chúa và cầu nguyện để trở thành công chính như Thiên Chúa. Vì thế, với những tín hữu Chính thống giáo, việc giữ gìn các giáo luật khởi phát từ hội thánh tiên khởi còn là để giữ gìn thần khí lưu truyền từ Thiên Chúa và phân phát công bằng ân huệ của Thiên Chúa cho tất cả mọi người. Trong ý nghĩa về sự hiện thân của Đức Jesus và sự hóa thân của Thiên Chúa nơi Chúa Jesus đã bao hàm ý nghĩa về sự chuộc tội và sự tồn tại vĩnh hằng của con người. Chúa Jesus được một con người trần tục sinh ra nên Người mang trong mình hai bản thể con người và thánh thần.
Vì thế sự xuất hiện và sự chết của Người trong cõi người được coi là một phương thức hợp nhất giữa con người với thánh thần, hóa giải tội lỗi mà tổ tiên con người là Adam và Eva đã phạm phải với Thiên Chúa. Sau khi bị đóng đinh trên cây thập giá đến chết, ba ngày sau, lời sấm ngôn mà Chúa Jesus nói trước ngày bị bắt ở bữa tiệc cuối cùng đã ứng nghiệm. Chúa Jesus đã sống lại và hiện diện trước mắt mọi người trong thân xác người. Điều này đã trả lời cho mọi sự hoài nghi của con người về cuộc đời sau khi chết và cũng khơi dậy niềm tin vào sự sống vĩnh hằng.