đặt vấn đề chống lại mimèsis và chủ trương nhấn mạnh đến tính tự trị của văn học đối với thực tại, đối với cái quy chiếu, với thế giới, và bảo vệ luận đề về quyền tối thượng của hình thức đối với nội dung, của từ ngữ đối với nội dung, của cái biểu đạt đối với cái được biểu đạt, của ý nghĩa đối với sự thể hiện, hay nói cách khác, văn học không phản ánh hiện thực [38, tr. Giữa hai cực đối lập ấy là lịch sử các quan niệm rất phong phú, đa dạng về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực. Luận án của chúng tôi không thể miêu tả chi tiết lịch sử phức tạp đó mà chỉ đặt mục tiêu tổng quan những tư tưởng then chốt về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực trong dòng vận động của các lý thuyết văn học; từ đó tạo tiền đề lý luận, lý giải sự vận động, đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986. Từ thế kỷ XIX trở về trước, trong tư duy lý luận phương Tây, dù cách hiểu đa dạng nhưng các lý thuyết văn học đều có điểm chung quan trọng, cho rằng văn học có khả năng nhận thức và biểu hiện thế giới khách quan.
Sylvan Barnet, Morton Berman, William Burto trong sách Nhập môn văn học cho rằng, một cách khái quát nhất, có thể phân chia các lý thuyết văn học thành ba loại, ba khuynh hướng tiếp cận và xử lý hiện thực của văn học: thuyết bắt chước; thuyết biểu hiện; thuyết cảm xúc [11]. Thuyết biểu hiện cho rằng, nghệ sĩ chủ yếu không phải là người bắt chước hiện thực mà là người biểu hiện những tình cảm của mình: “Người ta giãi bày những nỗi đau trên trang sách, lặp lại và trình bày lại những 6 (LUAN.1986 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1986 cảm xúc là để làm chủ được chúng” [11, tr. Công việc của họ “là xem xét sự vật không phải như chúng tồn tại. mà như chúng hiện ra đối với những cảm giác và những ham mê” [11, tr.
Thuyết cảm xúc có liên quan mật thiết đến thuyết biểu hiện khi cho rằng, công trình nghệ thuật phải gây được một cảm xúc đặc biệt ở người tiếp nhận: “Nghệ thuật là một hoạt động của con người mà thực chất là con người thông qua một số ký hiệu bên ngoài có ý thức truyền cho những người khác những tình cảm mà nó thể nghiệm, để những người khác bị nhiễm những tình cảm này, cùng thể nghiệm chúng” [11, tr. Thuyết cảm xúc khẳng định, sự kích thích gây ra những cảm xúc có thể có ích: làm nguội dịu tâm hồn, hoặc đáp ứng nhu cầu tổ chức cảm xúc thành mẫu hình đẹp, dễ chịu. Thuyết bắt chước bắt đầu từ Aristote, khẳng định nghệ thuật là sự bắt chước điều gì đó. Bắt chước là xu hướng tự nhiên của con người, và để tạo ra nghệ thuật, bắt chước kết hợp (bao hàm) tiết tấu và sự cách điệu kết hợp với sự hài hòa.
Aristote cho rằng, mimèsis không chỉ là bắt chước, nó còn là sự tái tạo, tái hiện, bao hàm sự bắt chước “sát sườn” tự nhiên, kết hợp với sự hài hòa. Ông khẳng định nghệ thuật cao hơn lịch sử bởi vì lịch sử phải gắn với sự kiện, còn nghệ thuật thì hoàn thiện tự nhiên, không trình bày cái đã xảy ra mà trình bày cái có thể xảy ra: “Người nghệ sĩ không bắt chước một cách nô dịch, mà anh ta tái tạo thực tại và giới thiệu nó với chúng ta trong một cái mẫu ở đó ta thấy được bản chất của nó sáng rõ hơn. Bắt chước của người nghệ sĩ trong chừng mực nào đó là sáng tạo, trong đó có sự tham gia của trí tưởng tượng, của sự đoán nhận, sự giải thích; nó phản ánh một cách nhìn đặc biệt về thực tại” [11, tr. Ngoài sự thích thú, văn học còn đem lại tri thức, trong đó có loại tri thức thông thường góp phần mở mang trí tuệ nhưng đáng chú ý hơn là loại tri thức đặc biệt khiến ta hiểu biết thêm về con người.
Thuyết bắt chước với hạt nhân là mimèsis của Aristote có sức ảnh hưởng to lớn trong lịch sử lý luận văn học phương Tây nói riêng, thế giới nói chung, là một trong những cơ sở tạo sinh quan trọng của chủ nghĩa hiện thực, của lý luận văn học marxist với nền tảng phản ánh luận sau này. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Marx khẳng định quan niệm biện chứng, duy vật, đề cập đến tính phức tạp, năng động của nhận thức, khẳng định ý thức không chỉ phản ánh mà còn sáng tạo và về bản chất, con người có khả năng nhận thức chân lý khách quan. Trong lĩnh vực văn học, phản ánh luận phát triển theo nhiều khuynh hướng, tạo ra nhiều phiên bản khác nhau chứ 7 (LUAN.1986 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1986 không thuần nhất. Về cơ bản có thể kể đến nhánh phản ánh luận ở các nước xã hội chủ nghĩa và phản ánh luận theo tư tưởng của các nhà marxist phương Tây.
Trên nền tảng tư tưởng của Marx và Angels, Lenin tiếp tục phát triển phản ánh luận và được các nhà lý luận văn học ở các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Xô viết, Trung Quốc và Việt Nam trình bày, diễn giải, sử dụng trong phần lớn thời gian của thế kỷ XX. Trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, các nhà lý luận văn học marxist phát triển thành các hệ thống rất đa dạng, phong phú. Cũng cần phải nói thêm, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Marx khi bàn về văn học, nghệ thuật thường chỉ đưa ra những luận điểm nằm rải rác và phân tán, ít được phát triển sâu. Trong công trình Chủ nghĩa Marx và phê bình văn học [63], tác giả Terry Eagleton đã chứng minh lý luận, phê bình văn học marxist phát triển phong phú với nhiều khúc quanh, sự phân tán.
Marx, Angels và cả Lenin đã chịu nhiều sự diễn giải, “gán ghép” của các trường phái muốn phát triển văn học phục vụ các mục đích chính trị. Bản thân Marx, Angels đã thể hiện quan niệm linh hoạt về sự “cải biến” tự nhiên (hiện thực) trong đầu óc con người, hay sự kiến tạo hiện thực của ý thức [158, tr. Phản ánh có tính năng động, thể hiện ở hai bình diện: 1/ Tính năng động của phản ánh không chỉ giản đơn ở thao tác lựa chọn mà còn cả ở khâu kiến tạo; 2/ Sự phản ánh – kiến tạo đồng thời cũng là sáng tạo, do vậy, không có cơ sở để đối lập phản ánh và sáng tạo (ở đây là mối quan hệ “bao hàm”, “ở trong” chứ không phải mối quan hệ “cộng thêm”) [158, tr. Những thành tựu của tâm lý học hiện đại đã cho thấy, quá trình phản ánh thông qua cảm giác, tri giác, biểu tượng, khái niệm đều là quá trình kiến tạo với vai trò chủ động, tích cực của chủ thể, còn thực tiễn đóng vai trò kiểm nghiệm.
Đây là vấn đề rất quan trọng bởi nếu không quan niệm dứt khoát phản ánh đã đồng thời bao hàm sự kiến tạo (sáng tạo) sẽ dẫn đến cách hiểu xơ cứng rằng phản ánh là sao chép “cộng thêm” sáng tạo. Đây là vấn đề nền móng, tạo lập những biên độ mềm dẻo để kiến giải mối quan hệ giữa văn học và hiện thực. Từ những tư tưởng nền tảng của Marx về phản ánh luận (đặc biệt trong trước tác thời kỳ đầu của ông), các nhà lý luận marxist phương Tây đã có những kiến giải tương đối uyển chuyển về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực, tiêu biểu như các tác giả G. Lukács, Ch.
Lukács cho rằng “hiện thực là cái toàn cục biện chứng, trong đó mọi yếu tố đều chuyển động, va chạm với nhau.1986 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1986 hiện thực có thể phản ánh vào trong văn học thì nhà văn cần phải sáng tạo lại, trao cho nó hình thức. Nghĩa là một tác phẩm được sáng tạo một cách “đúng đắn” thì “hình thức” văn học sẽ phản ánh hình thức của thế giới hiện thực” [88, tr. Hình thức đúng đắn mà ông quan niệm là cái hình thức phản ánh hiện thực một cách khách quan nhất. Lukács cũng phân biệt “vật tự nó” và “vật cho ta”, đồng thời cho rằng: “Tác phẩm nghệ thuật là vật cho ta xuất hiện trong hình thức của một vật tự nó, chỉ hoàn toàn trong hình thức của nó, chứ không phải là vật tự nó, xét trong ý nghĩa nghiêm túc của khái niệm này” [88, tr.
Trong những nghiên cứu về sau, ông xem ý thức nghệ thuật như một sự can thiệp có tính sáng tạo vào thế giới chứ không phải chỉ như một sự phản ánh thế giới. Lukács, Ch. Caudwell trong công trình Ảo ảnh và hiện thực xem đối tượng của phản ánh nghệ thuật là “thế giới bên trong” để phân biệt với “thế giới bên ngoài” là đối tượng của khoa học. Như vậy, quan điểm của Lukács và Caudwell có những khác biệt.
Lukács đề cao tính chân thực của sự phản ánh, còn Caudwell nhấn mạnh tính chân thực lịch sử của thái độ và tư tưởng của nhà văn, nhấn mạnh vai trò của chủ thể sáng tạo. Xét từ mối quan hệ giữa văn học và hiện thực, ngoài mô hình phản ánh, lý luận văn học marxist còn có các mô hình khác như mô hình sản xuất, mô hình phát sinh,. Trong tác phẩm Đến với lý luận sản xuất văn học (1978), P. Macherey, nhà lý luận marxist đã xem sáng tác văn học như là công việc sản xuất, trong đó nguyên vật liệu được tạo thành sản phẩm, các tác phẩm văn học “sản xuất ra hiện thực” còn sự hiểu biết về hiện thực là việc của người đọc: “Theo đó, nhà văn không phải là người sáng tạo, mà là người đến với văn bản văn học bằng việc bố trí các thể loại văn học, các quy ước ngôn ngữ và tư tưởng theo mong muốn của mình” [88, tr.
Mặc dù có những khác biệt trong quan niệm về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực trong các lý thuyết truyền thống, từ thuyết biểu hiện, thuyết cảm xúc đến thuyết bắt chước và sau này là phản ánh luận, nhưng có một điểm chung là các thuyết này đều dựa trên nền tảng triết học cho rằng con người có khả năng nhận thức thế giới khách quan như nó vốn có và thể nghiệm sự nhận thức ấy (bằng cách thức khác nhau) trong tác phẩm nghệ thuật. Bên cạnh đó, các lý thuyết trên chưa nhìn nhận đúng vai trò đặc biệt quan trọng của ngôn ngữ trong mối quan hệ giữa văn học và hiện thực. Mặc dù Marx đã đề cập đến vai trò của ngôn ngữ khi bàn đến đặc trưng phản ánh nói chung của con người, tuy vậy, những thành tựu mới nhất 9 (LUAN.1986 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.