Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn chuyên ngành Lý luận văn học (mã số: 62 22 01 20) với đề tài Mối quan hệ giữa văn học và hiện thực qua tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986 do nghiên cứu sinh Đinh Văn Thuần thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2017, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. TS Đinh Xuân Dũng và PGS. TS Phạm Xuân Thạch.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Mối quan hệ giữa văn học và hiện thực là vấn đề trung tâm của lý luận văn học từ thời cổ đại đến nay. Ở Việt Nam, do hoàn cảnh lịch sử chiến tranh vệ quốc kéo dài trong thế kỷ XX, vấn đề này chưa có điều kiện được nghiên cứu thường xuyên và toàn diện. Sau năm 1986, bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế thúc đẩy sự tiếp nhận nhiều lý thuyết văn học thế giới, dẫn tới sự xuất hiện của hai xu hướng đối lập: hoặc phủ nhận mối quan hệ giữa văn học và hiện thực, hoặc tuyệt đối hóa vai trò phản ánh của hiện thực khách quan đối với sáng tác. Thực trạng này tạo ra khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn sáng tác phong phú.
Đồng thời, tiểu thuyết thời kỳ đổi mới vận động mạnh mẽ và trở thành thể loại trung tâm của đời sống văn học. Dù đã có nhiều công trình vận dụng thi pháp học, tự sự học hay phân tâm học để nghiên cứu tiểu thuyết giai đoạn này, việc khảo sát sự vận động của thể loại nhìn từ mối quan hệ giữa văn học và hiện thực vẫn chủ yếu chịu sự chi phối của khung lý luận phản ánh luận cũ, chưa lý giải thỏa đáng bản chất của các hiện tượng cách tân.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và hiện thực, từ đó đề xuất cơ sở lý luận nhằm xem xét, nắm bắt các xu hướng vận động, đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam từ sau năm 1986.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm hai điểm:
- Nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực trên cơ sở lý thuyết ký hiệu học văn hóa, chứng minh giả thuyết văn học là hình thức mô hình hóa hiện thực.
- Phân tích căn cứ khoa học và xác lập hệ thống thuật ngữ khả dụng để hệ thống hóa, mô tả các mô hình hiện thực tiêu biểu trong tiểu thuyết Việt Nam từ sau năm 1986.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa văn học và hiện thực qua tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986.
- Phạm vi lý thuyết: Các tài liệu lý luận tiêu biểu bàn về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực trong lịch sử lý luận phương Tây, phương Đông và Việt Nam.
- Phạm vi tư liệu tác phẩm: Khảo sát tiểu thuyết Việt Nam xuất bản trong khoảng thời gian 30 năm (từ năm 1986 đến năm 2016), tập trung vào các tác phẩm tiêu biểu được giới nghiên cứu, phê bình chú ý và đánh giá cao.
| Thông số học thuật |
Chi tiết xác thực từ văn bản |
| Tên luận án |
Mối quan hệ giữa văn học và hiện thực qua tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986 |
| Tác giả |
Đinh Văn Thuần |
| Chuyên ngành & Mã số |
Lý luận văn học — 62 22 01 20 |
| Cơ sở đào tạo |
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội |
| Người hướng dẫn |
1. GS. TS Đinh Xuân Dũng; 2. PGS. TS Phạm Xuân Thạch |
| Năm bảo vệ |
2017 |
| Khung thời gian tư liệu |
1986 – 2016 (30 năm đổi mới văn học) |
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án điểm lại lịch sử nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và hiện thực qua ba bình diện lớn:
1. Tư duy lý luận văn học thế giới
- Truyền thống phương Tây cổ - cận đại: Khái niệm mimèsis (mô phỏng) bắt đầu từ Platon và Aristote. Aristote khẳng định nghệ thuật không bắt chước nô dịch mà là tái tạo thế giới khả năng. Sylvan Barnet, Morton Berman và William Burto trong Nhập môn văn học phân loại lý thuyết văn học thành ba khuynh hướng: thuyết bắt chước, thuyết biểu hiện và thuyết cảm xúc. Công trình Mimèsis, Phương thức biểu hiện thực tại trong văn học phương Tây (1946) của Erich Auerbach xem đây là phạm trù hiển nhiên của văn học phương Tây.
- Lý luận Marxist và phản ánh luận: K. Marx và F. Engels xem ý thức phản ánh và cải biến hiện thực mang tính kiến tạo; V.I. Lenin phát triển phản ánh luận làm nền tảng cho lý luận Xô viết, Trung Quốc và Việt Nam. Các nhà marxist phương Tây kiến giải linh hoạt hơn: G. Lukács phân biệt "vật tự nó" và "vật cho ta", coi hình thức nghệ thuật phản ánh cấu trúc thế giới; Ch. Caudwell (Ảo ảnh và hiện thực) tách biệt thế giới bên trong của văn học với thế giới bên ngoài của khoa học; P. Macherey (Đến với lý luận sản xuất văn học, 1978) đề xuất mô hình sản xuất văn học, trong đó văn bản sản xuất ra hiện thực; Terry Eagleton (Chủ nghĩa Marx và phê bình văn học) phân tích sự phong phú và các phân nhánh của lý luận marxist.
- Bước ngoặt thế kỷ XX: Khoa học tự nhiên với thuyết tương đối, thuyết lượng tử, nguyên lý bất định làm lung lay niềm tin duy lý (được D.H. Lawrence phản ánh qua nhận định về sự tan rã của hiện tượng). Triết học và tâm lý học hiện đại của William James (dòng ý thức), Sigmund Freud (vô thức), C.G. Jung (vô thức tập thể), Henri Bergson, Edmund Husserl và Martin Heidegger (ngôn ngữ là ngôi nhà hữu thể) làm thay đổi nhận thức luận.
- Bước ngoặt ngôn ngữ và hậu hiện đại: F. de Saussure (Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, 1916) phân lập trục ý nghĩa và trục giá trị, mở đường cho chủ nghĩa cấu trúc cô lập văn bản. Nhóm Bakhtin (M. Bakhtin, V. Voloshinov, P. Medvedev), trường phái Humboldt mới (L. Weisgerber) và lý thuyết diễn ngôn của M. Foucault, N. Fairclough khẳng định ngôn ngữ kiến tạo hiện thực và tri thức. Khái niệm liên văn bản của Julia Kristeva (1967) và hiện thực thậm phồn (hyperreality - theo diễn giải của Lê Huy Bắc) đẩy nhận thức tới chỗ khước từ quy chiếu thực tại; trào lưu hậu hiện đại tiếp nhận thế giới như sự hỗn độn nhân tạo.
- Tư duy phương Đông: Nghiên cứu so sánh của Trần Nho Thìn, Trần Dược Hồng, Đồng Khánh Bính, Thái Tông Tề chỉ ra văn luận truyền thống phương Đông coi trọng sự "chân thành", "vật cảm", "hài hòa" thay vì "chân thực" và "mô phỏng". Trần Đình Hượu (Thực tại, cái thực và vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam trung cận đại) khẳng định văn học trung đại chịu sự chi phối của mô hình Nho giáo, hướng vào "thực tại tâm chí", lấy dưỡng tâm và biểu đạt "khí", "thần" làm trọng, xa lạ với chủ nghĩa hiện thực phương Tây.
2. Nghiên cứu tại Việt Nam từ sau năm 1986
Tiến trình nhận thức lý luận tại Việt Nam trải qua ba giai đoạn:
- Giai đoạn 1986 – 1988: Gắn với yêu cầu nhìn thẳng vào sự thật, tự do sáng tác qua các bài viết của Nguyễn Tuân, Ngô Ngọc Bội, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Lại Nguyên Ân, Mai Văn Tạo, và đặc biệt là bài viết Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa (1987) của Nguyễn Minh Châu.
- Giai đoạn tranh luận từ 1988: Khởi phát từ bài viết Về vấn đề văn học phản ánh hiện thực của Lê Ngọc Trà (1988) cho rằng văn học là sự nghiền ngẫm về hiện thực chứ không thuần túy phản ánh. Hàng loạt tranh luận nổ ra tại Hội thảo Viện Văn học (tháng 7-1988) và trên báo chí với sự tham gia của Phương Lựu, Đinh Xuân Dũng, Trần Đình Sử, Hà Minh Đức, Hoàng Ngọc Hiến, Lê Xuân Vũ, Nguyễn Huệ Chi. Tiếp đó là chuyên luận Văn học và hiện thực do Phong Lê chủ biên; các nghiên cứu của Trần Đình Sử (1994, 1995) nhấn mạnh phương diện chủ quan và chức năng kiến tạo của phản ánh; cùng các bộ giáo trình của Phương Lựu (1985, 1996), Hà Minh Đức, Trần Đình Sử.
- Giai đoạn tiếp nhận lý thuyết hiện đại (từ giữa thập niên 1990 đến nay): Tiếp cận ký hiệu học, hậu hiện đại và lý thuyết diễn ngôn qua các công trình của Trần Đình Sử (Văn học và hiện thực trong tầm nhìn hiện đại - coi văn học là sáng tạo ký hiệu sinh nghĩa), Trần Thiện Khanh (Luận án tiến sĩ Diễn ngôn hiện thực trong văn học: Những vấn đề lý thuyết và lịch sử).
3. Nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam sau 1986
Trong 10 năm đầu đổi mới (1986 – 1995), các tác giả Lại Nguyên Ân, Lã Nguyên, Huỳnh Như Phương, Vương Trí Nhàn, Nguyên Ngọc, Đinh Xuân Dũng và các cuộc hội thảo văn xuôi (1989, 1990 do Hội Nhà văn tổ chức) đã nhận diện bước chuyển mình của văn xuôi và tiểu thuyết.
Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây hoặc rơi vào phản ánh luận trực quan xơ cứng, hoặc tiếp nhận giải cấu trúc/hậu hiện đại theo hướng triệt tiêu hoàn toàn mối liên hệ giữa văn bản và hiện thực đời sống. Luận án chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách vận dụng ký hiệu học văn hóa và lý thuyết trò chơi để xác lập mô hình lý luận trung gian: xem văn học là một hình thức mô hình hóa hiện thực mang tính phiên dịch văn hóa, từ đó phân loại và khảo sát hệ thống tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 qua hai mô hình cụ thể: mô hình hiện thực mô phỏng và mô hình hiện thực sắp đặt.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm công cụ
-
Lý thuyết ký hiệu học văn hóa (Trường phái Tartu – Moskva, trọng tâm là Iu. M. Lotman):
- Xem ngôn ngữ là hệ thống ký hiệu ban sơ, tác phẩm văn học là hệ thống mô hình hóa thứ cấp kiến tạo bức tranh thế giới.
- Cơ chế phiên dịch (translation): Tác phẩm nghệ thuật là mô hình hữu hạn của thế giới vô hạn; hiện thực đi vào tác phẩm đóng vai trò là chất liệu ký hiệu học. Quá trình tiếp nhận và sáng tạo chỉ diễn ra trong không gian ký hiệu quyển (semiosphere).
- Khái niệm khung (frame): Ranh giới ngăn cách thế giới nghệ thuật nội tại với thực tại bên ngoài, quy định tính tự trị tương đối của tác phẩm.
- Hai bình diện văn bản: bình diện huyền thoại (mô hình hóa toàn bộ thế giới, gắn với khung) và bình diện cốt truyện (phản ánh một phần hiện thực, có xu hướng phá vỡ khung).
- Cơ chế của Antoine Compagnon: Đưa ra kiến giải dung hòa trên cơ sở khôi phục khái niệm mimèsis nguyên bản của Aristote và phân biệt hai trục của Saussure; thế giới hư cấu hoạt động như một thực tại tiếp giáp, duy trì cơ chế "tự nguyện đình chỉ lòng hoài nghi".
-
Lý thuyết trò chơi (Game theory / Play theory):
- Luận án kế thừa quan niệm về trò chơi của Johan Huizinga (Homo Ludens, 1938) và Roger Caillois với các đặc tính: tự do, riêng biệt trong không - thời gian, bất định, phi vụ lợi, bị chi phối bởi luật lệ, và tính giả vờ/sắm vai.
- Dựa trên sự phân chia hai dòng mạch lý thuyết trò chơi của R. Wilson và định nghĩa của A. Makhov (trong Thi pháp học – Từ điển thuật ngữ và khái niệm thông dụng do N. Tamarchenko chủ biên), luận án xác định hai cơ chế thao tác trò chơi cơ bản: mô phỏng (imitation) và tổ hợp (combination - hoán vị, tháo rời và tái kết nối các bộ phận).
- Từ cơ chế trò chơi kết hợp đối chiếu với thuật ngữ nghệ thuật sắp đặt (installation) trong nghệ thuật thị giác, luận án định danh hai mô hình hiện thực nghệ thuật: Mô hình hiện thực mô phỏng và Mô hình hiện thực sắp đặt.
-
Lý thuyết trần thuật học (Narratology):
- Vận dụng các phạm trù: cấu trúc truyện kể (sự kiện, xung đột, motif), cấu trúc nhân vật (nhân vật hành động, nhân vật tĩnh tại, nhân vật tính cách, nhân vật phân rã) và tổ chức trần thuật (điểm nhìn, ngôi kể, trần thuật phân cấp, trần thuật đa trị, ngôn từ lai ghép, nhại).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu văn học chuyên ngành:
- Phương pháp loại hình: Nhận diện bản chất cấu trúc và phân loại tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 thành hai mô hình hiện thực tiêu biểu.
- Phương pháp hệ thống: Xem xét tác phẩm như một chỉnh thể nghệ thuật hoàn chỉnh; khảo sát đối tượng qua quan hệ phân cấp và quan hệ nhân quả ở cả cấp độ vĩ mô (diễn trình văn học) và vi mô (cấu trúc văn bản).
- Phương pháp tiếp cận liên ngành: Kết hợp lý luận văn học với lịch sử, văn hóa học, triết học và ký hiệu học nhằm cắt nghĩa tác động của bối cảnh xã hội đổi mới đối với sự vận động của thể loại.
- Phương pháp ký hiệu học văn hóa: Phân tích các tầng bậc ký hiệu, cơ chế mã hóa, giải mã và phiên dịch hiện thực trong văn bản nghệ thuật.
- Phương pháp tiếp cận theo lý thuyết trần thuật học: Bóc tách các thành tố tổ chức truyện kể, nhân vật và giọng điệu trần thuật.
- Các thao tác nghiên cứu bổ trợ: Thống kê, phân loại, phân tích, tổng hợp và so sánh văn bản.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
Nguồn ngữ liệu chính là các tiểu thuyết Việt Nam xuất bản từ năm 1986 đến năm 2016 được sàng lọc qua dư luận nghiên cứu, phê bình học thuật (được lập danh mục cụ thể tại Phụ lục 1 của luận án).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa toàn diện lịch sử nghiên cứu vấn đề từ ba trục nội dung:
- Tổng quan về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực trong tư duy lý luận văn học thế giới từ cổ đại, qua thời kỳ khai sáng, chủ nghĩa hiện thực thế kỷ XIX, các nhánh phản ánh luận marxist (Xô viết, Trung Quốc, Đông Âu và marxist phương Tây), bước ngoặt khoa học - tâm lý đầu thế kỷ XX, cho đến chủ nghĩa cấu trúc, hậu cấu trúc và hậu hiện đại; cùng sự đối sánh với đặc trưng văn luận phương Đông truyền thống.
- Tổng quan tình hình nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và hiện thực ở Việt Nam từ sau năm 1986 qua ba chặng đường: các trăn trở bước đầu về tự do sáng tác (1986 – 1988); các cuộc tranh luận lý luận sôi nổi về bản chất phản ánh hiện thực khởi nguồn từ bài viết của Lê Ngọc Trà (từ 1988); và các tìm tòi hiện đại hóa lý luận từ giữa thập niên 1990 gắn với lý thuyết diễn ngôn, ký hiệu học và hậu hiện đại.
- Tổng quan tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986 nhìn từ mối quan hệ giữa văn học và hiện thực, chỉ ra các thành tựu nhận diện diện mạo thể loại cũng như những hạn chế do chịu sự chi phối của khung lý luận phản ánh luận cũ.
Chương 2: Mối quan hệ văn học - hiện thực và sự vận động, đổi mới tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986
Chương này xác lập khung lý thuyết nền tảng cho toàn bộ luận án, gồm ba nội dung chính:
- Về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực: Xác lập quan niệm văn học là hình thức mô hình hóa hiện thực mang bản chất ký hiệu học; làm rõ cơ chế trò chơi (với hai thao tác mô phỏng và tổ hợp) tương hợp với cơ chế mô hình hóa hiện thực; phân tích kết cấu văn bản nghệ thuật qua các phạm trù khung, sự kiện, nhân vật và điểm nhìn theo lý thuyết của I. Lotman.
- Tiểu thuyết như là một hình thức mô hình hóa hiện thực: Xem thể loại tiểu thuyết như một hệ thống mã nghệ thuật năng động chi phối việc tổ chức bức tranh thế giới; phân tích tính năng thể loại của tiểu thuyết trong việc chiếm lĩnh hiện thực cuộc sống đang vận động chưa hoàn kết.
- Bối cảnh lịch sử, văn hóa và sự vận động, đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986: Phân tích bối cảnh đổi mới kinh tế, dân chủ hóa đời sống xã hội, sự hội nhập văn hóa quốc tế; từ đó phác họa diện mạo vận động của tiểu thuyết đổi mới trong dòng chảy phát triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.
Chương 3: Mô hình hiện thực mô phỏng trong tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986
Chương 3 đi sâu khảo sát mô hình hiện thực đầu tiên – mô hình kế thừa và đổi mới trên nền tảng của nguyên lý mimèsis truyền thống:
- Bản chất mô hình: Tác giả giữ vị thế chủ đạo, dẫn dắt người đọc tiếp nhận một bức tranh thế giới mang tính khách quan, có trật tự nhân quả hợp lý và bảo đảm tính chỉnh thể; người đọc đồng thuận với giao ước thẩm mỹ về tính chân thực của thế giới khả năng.
- Tổ chức truyện kể: Duy trì tính thống nhất chặt chẽ của hệ thống motif chủ đề; các xung đột và sự kiện được sắp xếp theo trình tự thời gian và mối liên hệ logic nhân quả rõ ràng.
- Nhân vật truyện kể: Thể hiện xu hướng ưu trội của nguyên tắc phân tuyến (tuyến nhân vật tích cực/tiêu cực hoặc sự phân hóa lập trường tư tưởng) và sự ưu trội của mô hình nhân vật tính cách (nhân vật có tâm lý, tính cách phát triển nhất quán, gắn với hoàn cảnh điển hình).
- Tổ chức trần thuật: Thể hiện tính ưu trội của hệ thống trần thuật phân cấp (người kể chuyện ngôi thứ ba toàn tri hoặc ngôi thứ nhất có quyền uy diễn giải) kết hợp với hệ thống mô tả phong cách hóa đậm chất hiện thực hoặc sử thi truyền thống.
Chương 4: Mô hình hiện thực sắp đặt trong tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986
Chương 4 nghiên cứu mô hình hiện thực thứ hai – mô hình gắn liền với những cách tân theo khuynh hướng hiện đại và hậu hiện đại:
- Bản chất mô hình: Tác giả từ bỏ vị thế đấng sáng tạo toàn tri, chuyển sang vai trò người tổ chức trò chơi, hoán vị và lắp ráp các mảnh ghép hiện thực; bức tranh thế giới hiện lên phân mảnh, phi tâm hóa, bất định và đầy những khoảng trống mời gọi người đọc cùng đồng sáng tạo.
- Tổ chức truyện kể: Phá vỡ cốt truyện tuyến tính truyền thống; tổ chức truyện kể theo dòng ý thức, dòng liên tưởng tâm lý miên man; tăng cường lai ghép các hình thức thể loại (tiểu thuyết lồng tiểu thuyết, ghi chép tư liệu, yếu tố trinh thám, kỳ ảo, nhật ký).
- Nhân vật truyện kể: Xuất hiện xu hướng tẩy trắng và mô hình nhân vật phân rã (nhân vật vô danh, mất nhân dạng, nhân vật hoài nghi về bản thể) cùng xu hướng thăm dò qua mô hình nhân vật thử nghiệm (nhân vật tình huống, nhân vật ý niệm).
- Tổ chức trần thuật: Xác lập vị thế ưu thắng của hệ thống trần thuật đa trị (đa điểm nhìn, nhiều giọng kể bình đẳng tranh biện không có giọng kết luận cuối cùng); sử dụng thủ pháp nhại (parody) và xác lập vị thế ưu thắng của hệ thống ngôn từ lai ghép tự do.
| Tiêu chí so sánh |
Mô hình hiện thực mô phỏng (Chương 3) |
Mô hình hiện thực sắp đặt (Chương 4) |
| Cơ chế tạo dựng |
Mô phỏng (imitation), tái tạo thế giới khả năng chỉnh thể |
Tổ hợp (combination), hoán vị, cắt dán các mảnh hiện thực (installation) |
| Vị thế tác giả & độc giả |
Tác giả dẫn dắt, có quyền uy; độc giả chấp nhận ảo tưởng hiện thực |
Tác giả lưỡng lự, tổ chức trò chơi; độc giả tham gia tái tạo nghĩa |
| Bức tranh thế giới |
Có trật tự, logic nhân quả, tính chỉnh thể |
Hỗn độn, phân mảnh, phi tâm hóa, bất định |
| Tổ chức truyện kể |
Cốt truyện nhân quả chặt chẽ, thống nhất hệ motif |
Trần thuật theo dòng ý thức, lai ghép đa thể loại |
| Mô hình nhân vật |
Phân tuyến tư tưởng, mô hình nhân vật tính cách nhất quán |
Nhân vật phân rã, tẩy trắng nhân dạng, nhân vật thử nghiệm |
| Tổ chức trần thuật |
Trần thuật phân cấp, mô tả phong cách hóa |
Trần thuật đa trị, đa thanh, nhại, ngôn từ lai ghép tự do |
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về phương diện lý luận và thực tiễn nghiên cứu văn học:
- Về lý luận: Luận án đề xuất một quan niệm khoa học và linh hoạt về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực. Bằng việc vận dụng lý thuyết ký hiệu học văn hóa (văn học như là hình thức mô hình hóa hiện thực) và lý thuyết trò chơi, công trình góp phần tháo gỡ sự bế tắc giữa hai cực đoan lý luận ở Việt Nam: quan niệm phản ánh luận xơ cứng coi văn học là sao chép hiện thực khách quan đối lập với quan niệm hậu hiện đại/giải cấu trúc phủ nhận hoàn toàn mối liên hệ giữa văn học và đời sống thực tại. Hệ thống thuật ngữ và khung phân tích được luận án xác lập có tính tương thích cao trong việc tiếp cận các hiện tượng văn học đương đại.
- Về thực tiễn: Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện đầu tiên khảo sát sự vận động, đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986 nhìn từ mối quan hệ giữa văn học và hiện thực. Việc phân xuất và làm rõ hai mô hình nghệ thuật tiêu biểu (mô hình hiện thực mô phỏng và mô hình hiện thực sắp đặt) đã khái quát được quy luật vận động nội tại của thể loại tiểu thuyết trong 30 năm đổi mới.
- Kiến nghị và ứng dụng: Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống luận điểm khoa học và ngữ liệu phân tích phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu, giảng dạy học phần Lý luận văn học, Lịch sử văn học Việt Nam hiện đại tại các trường đại học, cao đẳng và các viện nghiên cứu chuyên ngành.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do diện mạo tiểu thuyết Việt Nam trong 30 năm (1986 – 2016) rất bề bộn với số lượng tác phẩm xuất bản lớn, luận án chỉ tập trung khảo sát các tác phẩm tiêu biểu được giới nghiên cứu, phê bình đánh giá cao (danh mục tại Phụ lục 1), chưa thể bao quát toàn bộ mọi ấn phẩm tiểu thuyết ra đời trong giai đoạn này.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Từ khung lý thuyết mô hình hóa hiện thực và hệ thống tiêu chí đã xác lập, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát sang các thể loại văn xuôi khác như truyện ngắn, ký; hoặc vận dụng khảo sát các giai đoạn văn học khác của Việt Nam; đồng thời theo dõi sự chuyển biến của tiểu thuyết giai đoạn sau năm 2016.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Văn học: Cung cấp khung lý thuyết tiếp cận văn bản nghệ thuật dựa trên ký hiệu học văn hóa (I. Lotman), lý thuyết trò chơi và trần thuật học; đặc biệt là nội dung Chương 2 về cơ chế mô hình hóa hiện thực và khái niệm "khung" tác phẩm.
- Giảng viên đại học và cao đẳng: Tài liệu hữu ích phục vụ giảng dạy các chuyên đề chuyên sâu về Lý luận văn học (chuyên đề văn học và hiện thực, thi pháp thể loại tiểu thuyết) và Lịch sử văn học Việt Nam hiện đại (tiến trình tiểu thuyết đổi mới).
- Nhà phê bình và nghiên cứu văn học đương đại: Cung cấp công cụ phân loại (mô hình mô phỏng và mô hình sắp đặt) tại Chương 3 và Chương 4 để nhận diện, đánh giá các thủ pháp cách tân trong tiểu thuyết đương đại.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án giải quyết mâu thuẫn giữa quan niệm phản ánh luận truyền thống và các lý thuyết hậu cấu trúc/hậu hiện đại như thế nào?
Luận án vận dụng ký hiệu học văn hóa của I. Lotman và lý thuyết trò chơi để khẳng định văn học là một hình thức mô hình hóa hiện thực. Mối quan hệ giữa văn học và hiện thực không phải là sự sao chép cơ học hay phản ánh đơn thuần (như phản ánh luận trực quan quan niệm), cũng không phải là sự đứt gãy quy chiếu hoàn toàn (như hậu cấu trúc luận khẳng định), mà mang bản chất của sự "phiên dịch" ký hiệu học: tác phẩm nghệ thuật là mô hình hữu hạn kiến tạo bức tranh về một thế giới vô hạn, trong đó hiện thực đời sống đóng vai trò là chất liệu ký hiệu học được chuyển hóa trong không gian ký hiệu quyển.
2. Hai mô hình hiện thực được luận án xác lập trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 bắt nguồn từ cơ sở lý thuyết nào?
Hai mô hình này được xây dựng trên sự tương hợp giữa cơ chế trò chơi và cơ chế mô hình hóa hiện thực. Dựa trên phân tích của R. Wilson và định nghĩa của A. Makhov về hai bình diện trò chơi căn bản: mô phỏng (imitation - tạo dựng tình huống ảo chỉnh thể) và tổ hợp (combination - hoán vị, tháo rời và tái kết nối các bộ phận), kết hợp tham chiếu khái niệm nghệ thuật sắp đặt (installation) trong nghệ thuật thị giác, tác giả định danh hai mô hình: mô hình hiện thực mô phỏng và mô hình hiện thực sắp đặt.
3. Những đặc trưng cấu trúc nổi bật của mô hình hiện thực mô phỏng là gì?
Mô hình hiện thực mô phỏng duy trì vị thế dẫn dắt của tác giả, kiến tạo bức tranh thế giới có trật tự nhân quả hoàn chỉnh. Truyện kể có tính thống nhất chặt chẽ về hệ thống motif chủ đề và logic phát triển sự kiện. Nhân vật được tổ chức theo nguyên tắc phân tuyến tư tưởng và xây dựng theo mô hình nhân vật tính cách điển hình. Trần thuật mang tính chất phân cấp với người kể chuyện có quyền uy và hệ thống ngôn từ được phong cách hóa nhất quán.
4. Mô hình hiện thực sắp đặt thể hiện những cách tân nghệ thuật nào?
Mô hình hiện thực sắp đặt biến văn bản thành một sân chơi mở, nơi tác giả từ bỏ quyền uy tuyệt đối để người đọc tham gia kiến tạo nghĩa. Truyện kể vận động phi tuyến tính theo dòng ý thức và tăng cường lai ghép thể loại. Nhân vật bị tẩy trắng nhân dạng, phân rã bản thể hoặc trở thành nhân vật thử nghiệm mang tính ý niệm. Nghệ thuật trần thuật chuyển sang hệ thống đa trị, đa thanh, vận dụng thủ pháp nhại và giải phóng ngôn từ lai ghép tự do.
5. Phạm vi tác phẩm khảo sát thực tế của luận án được giới hạn ra sao?
Luận án khảo sát tiểu thuyết Việt Nam trong khung thời gian 30 năm, từ năm 1986 đến năm 2016. Do tính chất bề bộn của tư liệu thể loại trong giai đoạn đổi mới, luận án tập trung khảo sát các tác phẩm tiêu biểu được giới nghiên cứu và phê bình học thuật chú ý, đánh giá cao, được thống kê cụ thể tại bảng Phụ lục 1 của luận án.
Kết luận
Luận án của Đinh Văn Thuần là công trình nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực qua thể loại tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986 – 2016 dưới góc nhìn ký hiệu học văn hóa và trần thuật học. Bằng việc xác lập luận điểm văn học là hình thức mô hình hóa hiện thực, luận án đã phân xuất thành công hai mô hình hiện thực tiêu biểu của thời kỳ đổi mới: mô hình mô phỏng và mô hình sắp đặt. Công trình không chỉ cung cấp một khung lý thuyết khả dụng để giải thích sự chuyển dịch thi pháp tiểu thuyết đương đại mà còn đóng góp tài liệu học thuật có giá trị cho công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học tại Việt Nam.