Luận án tiến sĩ về sự đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 từ lý thuyết hệ hình

Luận án tiến sĩ phân tích sự đổi mới của tiểu thuyết việt nam sau 1986 nhìn từ lý thuyết hệ hình, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức mới cho ngành.

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

191
6
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

2. CHƯƠNG 2: LÍ THUYẾT HỆ HÌNH VỚI TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1986

3. CHƯƠNG 3: SỰ VẬN ĐỘNG CỦA QUAN NIỆM VỀ THỰC TẠI TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1986

4. CHƯƠNG 4: SỰ VẬN ĐỘNG CỦA QUAN NIỆM VỀ VIẾT TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1986

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 Sự Đổi Mới và Lý Thuyết Hệ Hình

Phần này khảo sát bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam sau 1986, đánh dấu một giai đoạn cách tân mạnh mẽ. Sự đổi mới văn học Việt Nam không chỉ là nhu cầu nội tại mà còn được thúc đẩy bởi phong trào Đổi mới. Tiểu thuyết chuyển từ quan niệm phản ánh hiện thực sang kiến tạo thực tại, thể hiện qua ám ảnh về thực tại phân mảnh. Nhân vật cũng đa dạng hơn, từ con người đơn ngã sang đa ngã, chấp nhận bản năng, tính dục và tâm linh. Nghệ thuật tiểu thuyết cũng có bước chuyển lớn, từ phiêu lưu hành động sang phiêu lưu của chính quá trình viết, tập trung vào “cái viết”. Sự tiếp nhận các lý thuyết văn học mới tạo điều kiện cho những khám phá học thuật. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây chưa có sự tiếp cận thống nhất và chuyên sâu. Lý thuyết hệ hình, được Thomas Kuhn đề xuất, là công cụ hữu ích để nhận diện đặc điểm của một thời kỳ phát triển và vận động của nó. Lý thuyết hệ hình giúp nhìn nhận sự dịch chuyển của đối tượng từ những vận động nội tại, phù hợp với giai đoạn văn học chuyển mình mạnh mẽ như văn học sau 1986. Luận án này sử dụng lý thuyết hệ hình để nhận diện cách tân của tiểu thuyết Việt Nam sau 1986, phân tích sự dịch chuyển hệ hình từ tiền hiện đại sang hiện đại rồi hậu hiện đại.

1.1. Tổng Quan Về Tình Hình Nghiên Cứu

Các nghiên cứu trước đây về tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 thường nằm trong các tổng kết lớn hơn về văn học thế kỷ XX hoặc văn học sau 1975. Tiểu thuyết sau 1986 thường được xem xét trong bối cảnh chung, ít được phân tích chuyên sâu. Nhiều nghiên cứu tập trung vào sự đổi mới ở một vài khía cạnh, chưa có cái nhìn tổng thể và hệ thống. Một số công trình đã đề cập đến sự chuyển đổi từ tiền hiện đại sang hiện đại, thậm chí hậu hiện đại, nhưng chưa sử dụng lý thuyết hệ hình để làm rõ quá trình này. Các công trình nghiên cứu thường dựa trên các tiêu chí lịch sử - xã hội, chưa đủ để phản ánh đầy đủ sự vận động nội tại của văn học. Việc chưa phân biệt rõ các khái niệm: văn học hiện đại, hiện đại hóa văn học và chủ nghĩa hiện đại dẫn đến những cách nhìn nhận khác biệt. Do đó, việc bổ sung góc nhìn từ lý thuyết hệ hình là cần thiết để có cái nhìn toàn diện hơn về sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam sau 1986.

1.2. Lý thuyết hệ hình và Phân tích Tiểu thuyết Việt Nam

Luận án này ứng dụng lý thuyết hệ hình của Thomas Kuhn làm nền tảng lý thuyết để nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam sau 1986. Lý thuyết hệ hình cung cấp khung lý thuyết để phân tích sự chuyển đổi, sự vận động nội tại của tiểu thuyết Việt Nam trong giai đoạn này. Các khái niệm hạt nhân như hệ hình, chuyển đổi hệ hình được sử dụng để làm rõ sự dịch chuyển từ tiền hiện đại, hiện đại đến hậu hiện đại. Bên cạnh lý thuyết hệ hình, luận án cũng kết hợp các lý thuyết khác như tự sự học, thi pháp học để hỗ trợ quá trình giải mã văn bản. Phương pháp nghiên cứu liên ngành văn hóa - văn học, phương pháp cấu trúc, phương pháp hệ thống và phương pháp so sánh được sử dụng để phân tích sự vận động của các hệ hình văn học, đặc biệt là sự vận động của hệ hình xã hộihệ hình văn hóa phản ánh trong văn bản. Việc kết hợp đa phương pháp giúp làm sáng tỏ những đổi mới trong quan niệm về thực tại, con người, và nghệ thuật viết trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986.

II. Xu hướng Tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 Quan Niệm Về Thực Tại và Con Người

Chương này tập trung vào sự thay đổi trong quan niệm về thực tại và con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986. Sự đổi mới thể hiện rõ nét qua việc chuyển từ mô hình phản ánh hiện thực sang kiến tạo thực tại. Tiểu thuyết phản ánh thực tại phân mảnh, phức tạp, không còn đơn giản như trước. Nhân vật cũng được khắc họa đa chiều hơn, không còn gò bó trong khuôn khổ lý tưởng. Nhân vật tiểu thuyết thể hiện tính đa ngã, chấp nhận bản năng, tính dục và tâm linh. Sự thay đổi này phản ánh sự chuyển mình trong tư duy xã hội sau Đổi mới. Thực trạng tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này phản ánh sự đa dạng về quan điểm, tư tưởng của người viết. Ngôn ngữ tiểu thuyết cũng linh hoạt và phong phú hơn, thể hiện sự tự do sáng tạo của người viết. Sự thay đổi này đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử tiểu thuyết Việt Nam. Các trường phái tiểu thuyết cũng đa dạng hơn, thể hiện sự phong phú của văn học Việt Nam.

2.1. Phân tích Tiểu thuyết và Thực Tại Phân Mảnh

Các tác phẩm tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 thường thể hiện thực tại một cách phân mảnh, không liền mạch. Điều này phản ánh sự hỗn loạn, bất ổn của xã hội thời kỳ chuyển đổi. Phân tích tiểu thuyết cho thấy sự phá vỡ cấu trúc tuyến tính, sự đan xen giữa hiện tại và quá khứ, giữa thực và ảo. Các tác giả tiểu thuyết sử dụng nhiều kỹ thuật như dòng ý thức, độc thoại nội tâm để phản ánh tâm lý nhân vật phức tạp. Cấu trúc tiểu thuyết cũng trở nên linh hoạt hơn, không bị gò bó bởi các quy tắc truyền thống. Ý nghĩa tiểu thuyết không còn đơn giản, mà mang nhiều tầng nghĩa khác nhau. Việc sử dụng ngôn ngữ tiểu thuyết cũng góp phần tạo nên sự đa dạng, phức tạp của thực tại trong tác phẩm. Phê bình văn học cần có cái nhìn đa chiều để hiểu được sự phức tạp của thực tại trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986.

2.2. Nhân Vật và Sự Thay Đổi Quan Niệm Về Con Người

Sự đổi mới trong quan niệm về con người cũng thể hiện rõ nét trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986. Nhân vật tiểu thuyết không còn là những hình tượng lý tưởng, mà là những con người đa chiều, phức tạp với đầy đủ những mặt tốt và xấu. Nhân vật tiểu thuyết thể hiện sự đấu tranh nội tâm, sự giằng xé giữa lý trí và tình cảm, giữa thiện và ác. Phân tích nhân vật tiểu thuyết cho thấy sự thay đổi trong cách nhìn nhận con người từ quan điểm duy vật biện chứng sang quan điểm nhân văn. Sự chú trọng đến tâm lý, tình cảm của nhân vật tiểu thuyết làm cho nhân vật trở nên sinh động, gần gũi hơn với người đọc. Các tác giả tiểu thuyết đã tạo ra những nhân vật có chiều sâu tâm lý, góp phần làm phong phú thêm bức tranh đời sống trong tiểu thuyết Việt Nam. Thực trạng tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này phản ánh sự chuyển mình trong quan niệm về con người.

III. Sự Vận Động Của Quan Niệm Về Viết trong Tiểu Thuyết Việt Nam Sau 1986

Phần này tập trung phân tích sự vận động của quan niệm về viết trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986. Sự đổi mới thể hiện ở việc chuyển từ quan niệm viết như một công cụ tuyên truyền sang quan niệm viết như một hình thức sáng tạo nghệ thuật. Tiểu thuyết không còn gò bó trong khuôn khổ hiện thực xã hội chủ nghĩa, mà hướng đến sự khám phá cá nhân, thể nghiệm nghệ thuật. Các tác giả tiểu thuyết sử dụng nhiều kỹ thuật viết mới mẻ như dòng ý thức, độc thoại nội tâm, kỹ thuật phi tuyến tính. Ngôn ngữ tiểu thuyết trở nên linh hoạt, đa dạng hơn, phản ánh sự phong phú của đời sống. Cấu trúc tiểu thuyết cũng có nhiều thay đổi, phù hợp với cách kể chuyện hiện đại. Sự đổi mới này thể hiện sự trưởng thành của tiểu thuyết Việt Nam, phản ánh sự phát triển của tư duy nghệ thuật. Thực trạng tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này cho thấy sự đa dạng về phong cách viết, thể hiện sự tự do sáng tạo của các nhà văn.

3.1. Kỹ Thuật Viết và Sự Thể Hiện Cá Tính Nghệ Thuật

Sự đổi mới trong kỹ thuật viết thể hiện rõ nét trong việc sử dụng dòng ý thức, độc thoại nội tâm, kể chuyện phi tuyến tính. Tiểu thuyết không còn theo mô típ truyền thống, mà hướng đến sự thể hiện cá tính nghệ thuật của người viết. Các tác giả tiểu thuyết mạnh dạn thử nghiệm, khám phá những phương thức thể hiện mới mẻ. Ngôn ngữ tiểu thuyết phong phú, giàu hình ảnh, biểu cảm, tạo nên sức hấp dẫn cho người đọc. Sự đổi mới trong kỹ thuật viết đã làm cho tiểu thuyết Việt Nam trở nên sinh động, hấp dẫn hơn. Phân tích tiểu thuyết cần chú trọng đến những kỹ thuật viết độc đáo để hiểu rõ hơn về nghệ thuật của các nhà văn. Thực trạng tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này phản ánh sự đa dạng về phong cách viết.

3.2. Ảnh hưởng chính trị đến văn học và Sự Phát Triển Của Tiểu Thuyết

Chính trị có tác động lớn đến sự phát triển của văn học, đặc biệt là tiểu thuyết. Ảnh hưởng chính trị đến văn học thể hiện qua các chủ đề, nội dung, hình thức thể hiện trong tác phẩm. Đổi mới đã tạo điều kiện cho các nhà văn có sự tự do sáng tạo hơn. Tuy nhiên, chính trị vẫn là một yếu tố cần xem xét khi nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam. Phân tích tiểu thuyết cần kết hợp yếu tố chính trị để hiểu rõ hơn bối cảnh ra đời và ý nghĩa của tác phẩm. Vai trò của tiểu thuyết Việt Nam là phản ánh xã hội, nhưng cũng cần tính đến yếu tố nghệ thuật. Sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam không tách rời khỏi sự phát triển của xã hội và chính trị.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề nghiên cứu những yếu tố chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam. Cũng vào cuối năm này, bộ Từ điển thuật ngữ văn học do Trần Đình Sử, Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi chủ biên, Nxb Giáo dục phát hành, đã đưa vào mục Hậu hiện đại , xem đây là thuật ngữ chính thức của văn học. Đây là một động thái rất có ý nghĩa, nó là sự thừa nhận của giới nghiên cứu văn học Việt Nam đối với lý thuyết hậu hiện đại. Hội thảo Văn học hậu hiện đại - diễn giải và tiếp nhận tháng 3/2011 tại Huế đã chứng kiến sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu tới hướng đi mới này với tư cách là một tiền đề lý thuyết để tiếp cận tiểu thuyết sau 1986 với hàng loạt bài viết: Dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI [80, 263]; Từ Chùa Đàn (Nguyễn Tuân) đến Thoạt kì thủy (Nguyễn Bình Phương) - một gạch nối hiện đại - hậu hiện đại [80, 280]; Trò chơi kết cấu - một cách tân nghệ thuật trong Pari 11 tháng 8 của nhà văn Thuận [80, 293]; Dấu ấn hậu hiện đại trong Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư [80, 307]; Dấu ấn hậu hiện đại trong sáng tác Nguyễn Bình Phương qua Những đứa trẻ chết già và Thoạt kì thủy [80, 400]… Các bài viết được tập hợp trong cuốn Văn học hậu hiện đại diễn giải và tiếp nhận do Nguyễn Thành, Hồ Thế Hà, Nguyễn Hồng Dũng chủ biên.

Tại hội thảo khoa học quốc gia Văn học hậu hiện đại - lí thuyết và thực tiễn” tổ chức tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào tháng 1 năm 2013, các chuyên gia không còn tranh cãi có chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam hay không mà tập trung vào việc xác định khuynh hướng văn học này có nguồn gốc nội tại hay ngoại nhập và đi sâu phân tích các biểu hiện của nó trong thực tiễn văn học Việt. Cuốn Văn học hậu hiện đại – lý thuyết và thực tiễn do Lê Huy Bắc, Lê Nguyên Cẩn, Đỗ Hải Phong tuyển chọn từ hội thảo gồm 30 bài viết của các nhà giáo, nhà khoa học. Nhìn chung, các tác giả chủ yếu tập trung vào nghiên cứu các khái niệm triết mỹ của lý thuyết hậu hiện đại và những ứng dụng chúng trong các sáng tác, góp phần giải quyết những vấn đề đang còn vướng mắc hay chỉ rõ hơn những đặc thù mà những người đi trước đ đề ra. 16 luan an Cũng trong năm này, Lê Huy Bắc tiếp tục chủ biên hai cuốn Văn học hậu hiện đại lý thuyết và tiếp nhận và Phê bình văn học hậu hiện đại Việt Nam.

Cuốn Văn học hậu hiện đại lí thuyết và tiếp nhận được biên soạn chủ yếu theo tinh thần tổng hợp các tri thức hậu hiện đại từ lý thuyết của Jean - Francois Lyotard, Jacques Derida, Jean Baudrillard, Michel Foucalt, Roland Barthes… Ngoài ra, cuốn sách cũng đi vào thực tiễn sáng tác văn chương hậu hiện đại thế giới với các đại diện như Franz Kafka, Samuel Beckett, Umberto Eco, Orhan Pamuk… và các đại diện Việt Nam như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Nguyễn Ngọc Tư…Cuốn sách đã đúc kết một số thủ pháp hậu hiện đại như cực hạn , huyền ảo , mảnh vỡ , mê lộ …và đề xuất một số khái niệm mới như mờ hóa , giải tôi , đa văn bản … Cuốn Phê bình văn học hậu hiện đại Việt Nam tập hợp những bài nghiên cứu lí thuyết và phê bình hậu hiện đại ở Việt Nam kẻ từ lúc khởi đầu đến nay, trên dưới mười năm. Trong các bài được tuyển chọn, có các bài viết về tiểu thuyết sau 1986: Văn xuôi hậu hiện đại Việt Nam: Quốc tế và bản địa, cách tân và truyền thống [7, 203]; Đổi mới tiểu thuyết Việt Nam đương đại: Lối viết hậu hiện đại [7, 229]; Ngoại biên hóa trong văn học hậu hiện đại Việt Nam - trường hợp Đặng Thân [7, 259]. Trong bản báo cáo tổng kết đề tài khoa học công nghệ cấp Bộ Một số khuynh hướng tiểu thuyết ở nước ta từ thời điểm đổi mới đến nay, nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Bình đã dành hẳn một chương nghiên cứu khuynh hướng hậu hiện đại trong tiểu thuyết Việt Nam từ sau đổi mới. Hai cuốn Văn học Việt Nam sau 1986 phê bình và đối thoại và Những dấu hiệu của chủ ngh a hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam đương đại (giai đoạn 1986-2012) của Phùng Gia Thế là những công trình chuyên sâu về chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam sau 1986.

Với cuốn Văn học Việt Nam sau 1986 phê bình và đối thoại, tác giả đã làm rõ thế nào là cảm quan hậu hiện đại, nêu lên các thủ pháp nghệ thuật đặc trưng của hậu hiện đại cùng những hiểu nhầm về thuật ngữ này dẫn đến nguy cơ cả làng hậu hiện đại , tiến hành công việc phân loại các thế hệ tác giả hậu hiện đại ở Việt Nam. Phùng Gia Thế dành bốn bài nghiên cứu công phu về các tác giả quan trọng trong tiến trình hậu hiện đại của tiểu thuyết Việt Nam là Nguyễn Huy Thiệp (thế hệ đầu), Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà (thế hệ thứ hai), Đặng Thân (thế hệ thứ ba). Cuốn Những 17 luan an dấu hiệu của chủ ngh a hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam đương đại (giai đoạn 1986-2012) quan tâm phân tích các dấu hiệu, yếu tố hậu hiện đại nổi bật nhằm chứng minh cho sự tồn tại của khuynh hướng hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam như một hệ quả có cội rễ từ những yếu tố nội sinh và từ giao lưu văn hóa trong bối cảnh toàn cầu. Tác giả đã chứng minh những dấu hiệu hiện đại trong văn xuôi sau 1986 qua mô hình thế giới nghệ thuật đặc thù - mô hình thế giới giải thiêng và phương thức vận hành đặc trưng của nó là xu hướng các-na-van hóa.

Văn học hậu hiện đại những năm gần đây đã được đưa vào chương trình đào tạo các hệ đại học và cao học, trở thành đề tài nghiên cứu của rất nhiều luận văn, luận án văn học. Trong đó có những luận án trực tiếp nghiên cứu về văn xuôi hậu hiện đại Việt Nam, như luận án tiến sĩ Ảnh hưởng của chủ ngh a hậu hiện đại Việt Nam từ 1986-2010 của Nguyễn Hồng Dũng. Xung quanh vấn đề nghiên cứu tiểu thuyết sau 1986 từ lý thuyết hậu hiện đại, có thể kể đến các công trình nghiên cứu của các nhà phê bình hải ngoại: Các lý thuyết phê bình văn học: Chủ ngh a hậu hiện đại; Chủ ngh a hậu hiện đại và văn học Việt Nam; Chủ ngh a hậu hiện đại và chủ ngh a tiền vệ, Chủ ngh a h(ậu h)iện đại và văn học Việt Nam; Đổi mới như một số phận và một phiêu lưu; Một phiên bản h(ậu h)iện đại cho văn học Việt Nam, Các lý thuyết phê bình văn học: chủ ngh a hậu hiện đại, Chủ ngh a hậu hiện đại - những mảnh ngh rời, Chủ ngh a hậu hiện đại và những cái cần chết trong văn học Việt Nam… của Nguyễn Hưng Quốc (tienve.org); Thử thưởng thức một tác phẩm văn chương hậu hiện đại; Viết: Từ hiện đại đến hậu hiện đại…của Hoàng Ngọc Tuấn (tienve.org); Chủ ngh a hậu hiện đại: những khái niệm căn bản của Nguyễn Minh Quân (dactrung. Các bài viết trên các diễn đàn báo chí mạng trong nước cũng đóng góp thêm sức nóng cho vấn đề: Tiếp nhận những cách tân của chủ ngh a hiện đại & chủ ngh a hậu hiện đại của Hoàng Ngọc Hiến (tapchisonghuong.vn); Chủ ngh a hậu hiện đại và ảnh hưởng ở nước ta của Đông La (vietbao.vn); Một nhầm lẫn hậu hiện đại của Ngân Xuyên (tiasang.vn); Chập chờn bóng ma hậu hiện đại của Đỗ Minh Tuấn (dongtac.net); Nói chuyện hậu hiện đại và toàn cầu hóa của Vũ Lâm (thethaovanhoa.vn); Dấu ấn hậu hiện đại trong văn học Việt Nam sau 1986 của Phùng Gia Thế (evan.net); Tùy bút nhỏ về hậu hiện đại của 18 luan an Văn Giá (chungta.com); Thiền và hậu hiện đại của Nhật Chiêu (giacngo.vn); Phải chăng nỗi sợ h i hậu hiện đại là có thật của Bùi Công Thuấn (phongdiep.net); Chuyên đề hậu hiện đại (mythuatvietnam.info); Tản mạn về hậu hiện đại của Vương Văn Quang (nguoidaibieu.vn); Tư duy hậu hiện đại và những cách thu nhận kiến thức của Nguyễn Hào Hải (chungta.com); Ma nét, quá trình chuyển giọng từ hiện đại đến hậu hiện đại (inrasara.com), Tâm thức hậu hiện đại trong tiểu thuyết Việt Nam 1986 – 2010 của Nguyễn Hồng Dũng (tapchisonghuong.vn)… Như vậy, trong các hướng tiếp cận tiểu thuyết sau 1986, hướng tiếp cận lý thuyết hậu hiện đại được nhiều nhà nghiên cứu áp dụng, đến mức dường như trở thành một mốt thời thượng.

Tuy nhiên, qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy, bản thân các khái niệm hiện đại - hậu hiện đại còn là khái niệm gây tranh cãi, bản thân vấn đề nhận diện chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam nói riêng và tiểu thuyết sau 1986 cũng còn chưa thống nhất. Bỏ qua vấn đề Chủ ngh a hậu hiện đại - Tồn tại hay không tồn tại? , Có hay không chủ ngh a hậu hiện đại trong văn học Việt Nam? (Xem thêm Nguyễn Văn Dân, Nguyễn Hồng Dũng, Phan Tuấn nh [58, 103], thực tế là một tác giả, tác phẩm, có khi được xếp vào hiện đại, có khi vào mâm hậu hiện đại. Thi pháp hiện đại của Đỗ Đức Hiểu có các bài viết dành cho Nguyễn Minh Châu, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh: Phiên chợ Giát; Đọc Phạm Thị Hoài; Thân phận tình yêu của Bảo Ninh, Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp… Tác giả Mai Nhi trong luận án Chủ ngh a hiện đại trong Văn học Việt Nam hiện đại coi Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh… là những đại diện tiêu biểu cho chủ nghĩa hiện đại trong văn học Việt Nam. Nhiều bài viết nói đến các tác giả trên với danh từ hiện đại : Cuộc tìm kiếm hình thức đa thanh mới của văn xuôi hiện đại qua cấu trúc truyện của Nguyễn Huy Thiệp [45, 277]; Nhà văn hiện đại Việt Nam hiện đại: Những giới hạn và sứ mệnh (Suy ngh từ những sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp) [45, 131]… Trong khi đó, các bài viết của Nguyễn Thị Bình, Lã Nguyên, Lê Huy Bắc, Phùng Gia Thế… lại coi đây là những đại diện sớm của chủ nghĩa hậu hiện đại tại Việt Nam: Giới nghiên cứu văn học đ sớm nhận ra sự gặp gỡ giữa văn chương nước ta với văn chương hậu hiện đại qua những sáng tác xuất hiện từ thập niên tám mươi của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Đổi Mới Tiểu Thuyết Việt Nam Sau 1986: Góc Nhìn Từ Lý Thuyết Hệ Hình" của tác giả Nguyễn Thị Hoài An, dưới sự hướng dẫn của TS Đồ Lai Thúy và TS Hoàng Tố Mai, được thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội vào năm 2021. Bài luận án này tập trung vào sự chuyển mình của tiểu thuyết Việt Nam từ năm 1986, thời điểm bắt đầu công cuộc Đổi Mới, thông qua lăng kính của lý thuyết hệ hình. Tác phẩm không chỉ phân tích các yếu tố văn hóa, xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển của tiểu thuyết mà còn chỉ ra những đặc điểm nổi bật trong phong cách và nội dung của các tác phẩm tiêu biểu trong giai đoạn này. Độc giả sẽ tìm thấy những cái nhìn sâu sắc về sự thay đổi trong tư duy sáng tạo và cách mà các nhà văn đã phản ánh hiện thực xã hội qua ngòi bút của mình.

Để mở rộng thêm kiến thức về lý luận văn học và các tác phẩm văn học Việt Nam, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Giáo Trình Lí Luận Văn Học: Tác Phẩm Văn Học Đặc Sắc, nơi cung cấp cái nhìn tổng quát về các tác phẩm văn học nổi bật, hoặc Tư tưởng lý luận phê bình văn học của Kim Thánh Thán và sự tiếp nhận tại Việt Nam, giúp bạn hiểu thêm về các lý thuyết phê bình văn học hiện đại. Cuối cùng, Khám Phá Đặc Điểm Thi Pháp Trong Truyện Ngắn Của Nguyễn Quang Sáng sẽ mang đến cho bạn cái nhìn sâu sắc về thi pháp trong văn học Việt Nam, một khía cạnh quan trọng trong việc hiểu rõ hơn về sự đổi mới trong tiểu thuyết.