Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ "Sự đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 nhìn từ lý thuyết hệ hình" của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hoài An thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số: 9 22 01 21), được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Đỗ Lai Thúy và TS Hoàng Tố Mai tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (năm 2021).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, văn bản luận án xác định tiểu thuyết sau năm 1986 là giai đoạn cách tân quan trọng của văn học Việt Nam. Tiến trình này đánh dấu sự dịch chuyển từ việc phản ánh hiện thực sang kiến tạo thực tại và thực tại phân mảnh; từ con người đơn ngã sang con người đa ngã, bản năng, tâm linh; từ viết về cuộc phiêu lưu sang phiêu lưu của cái viết và viết về cái viết. Mặc dù giai đoạn này đã được tiếp cận qua nhiều khung lý thuyết như thi pháp học, tự sự học, phân tâm học, nữ quyền luận, phê bình hậu hiện đại hoặc từ góc độ lịch sử xã hội, nhưng giới nghiên cứu chưa có một công trình nào thể nghiệm một lý thuyết tiếp cận thống nhất và chuyên sâu để nhận diện sự vận động bên trong của toàn bộ giai đoạn tiểu thuyết này. Do đó, việc ứng dụng lý thuyết hệ hình của Thomas Kuhn với cái nhìn nội quan là cần thiết nhằm lý giải các cách tân của tiểu thuyết sau năm 1986 theo quy luật vận động nội tại của văn học.

Mục đích nghiên cứu của luận án là nhận diện, đánh giá sự đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986 trên các phương diện: quan niệm về thực tại và con người, quan niệm về viết cùng các kỹ thuật tự sự tương ứng trong sự đối sánh hệ hình; qua đó chỉ ra đóng góp của giai đoạn này trong tiến trình tiểu thuyết Việt Nam từ đầu thế kỷ XX, đặc biệt là từ sau năm 1975 đến nay.

Để thực hiện mục đích trên, luận án đặt ra ba câu hỏi nghiên cứu chính (được đánh số theo logic văn bản):

  1. Tiểu thuyết sau 1986 có những cách tân nào trong quan niệm về thực tại và con người?
  2. Tiểu thuyết sau 1986 có những thay đổi như thế nào về viết, mang đến những đổi mới nào về phương diện nghệ thuật?
  3. Những cách tân đó tạo ra cuộc cách mạng hệ hình trong tiểu thuyết Việt Nam như thế nào?

Đối tượng nghiên cứu là những đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986 trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật, cụ thể là cuộc cách mạng hệ hình từ tiền hiện đại sang hiện đại và hậu hiện đại. Phạm vi khảo sát bao quát các tác phẩm tiểu thuyết nổi bật của giai đoạn sau 1986, tập trung vào các tác phẩm tiêu biểu gồm:

  • Thời xa vắng (Lê Lựu)
  • Bến không chồng (Dương Hướng)
  • Thiên sứ (Phạm Thị Hoài)
  • Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh)
  • Lão Khổ, Thiên thần sám hối, Đi tìm nhân vật (Tạ Duy Anh)
  • Thoạt kì thủy, Người đi vắng, Ngồi, Mình và họ (Nguyễn Bình Phương)
  • Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn (Nguyễn Việt Hà)
  • T mất tích, Pari 11-8, Chinatown (Thuận)
  • Và khi tro bụi, Mưa ở kiếp sau (Đoàn Minh Phượng)

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng quan lịch sử nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986 trên hai trục chính: tiếp cận lịch sử văn học và tiếp cận từ các lý thuyết chuyên ngành.

Ở hướng tiếp cận lịch sử, các công trình đặt tiểu thuyết sau 1986 trong tiến trình thế kỷ XX gồm có: Văn học trên hành trình thế kỷ XX (Phong Lê, 1997); Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỷ XX (Hà Minh Đức chủ biên, 2005); Văn học Việt Nam thế kỷ XX - những vấn đề lịch sử và lý luận (Phan Cự Đệ chủ biên); Giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại (Nguyễn Văn Long chủ biên). Ở phân khúc sau năm 1975 và sau năm 1986, các công trình tiêu biểu gồm: Văn xuôi 1975 - 1995, những đổi mới căn bản (Nguyễn Thị Bình); Tiểu thuyết đương đại (Bùi Việt Thắng); Văn học Việt Nam sau 1975, những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy (Nguyễn Văn Long, Lã Nhâm Thìn chủ biên); kỷ yếu hội thảo Thế hệ nhà văn sau 1975 (với các bài viết của Lê Thị Thúy Hằng, Thái Phan Vàng Anh); luận án tiến sĩ Văn học Việt Nam giai đoạn 1986-2000: một số vấn đề lý luận và thực tiễn (Đoàn Ánh Dương); Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại giai đoạn 1986-2006 (Mai Hải Oanh); Những đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam trong 15 năm cuối thế kỷ XX (Trần Thị Mai Nhân); Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI cấu trúc và khuynh hướng (Hoàng Cẩm Giang); luận án tiến sĩ Tiểu thuyết Việt Nam đương đại nhìn từ góc độ diễn ngôn (Nguyễn Thị Hải Phương).

Ở hướng tiếp cận lý thuyết, các nhà nghiên cứu đã vận dụng nhiều khung phân tích khác nhau:

  • Thi pháp học và Tự sự học: Công trình của Bùi Việt Thắng, Đào Duy Hiệp, Mai Hương, Nguyễn Bích Thu, cùng các tham luận trong hai hội thảo Tự sự học tại Đại học Sư phạm Hà Nội đã phân tích kỹ thuật dòng ý thức, kết cấu đa thanh, tổ chức trần thuật.
  • Ký hiệu học và Diễn ngôn: Các nghiên cứu của Nguyễn Văn Hùng, Thái Phan Vàng Anh, Nguyễn Thị Hải Phương khám phá hệ thống biểu tượng nghịch dị, diễn ngôn giới và quyền lực.
  • Phân tâm học: Các công trình tiêu biểu gồm Học thuyết Freud và sự thể hiện của nó trong văn học Việt Nam (Trần Thanh Hà), bài viết của Đỗ Ngọc Thạch, Nguyễn Đình Tú, Phan Tuấn Anh, Hoàng Thị Huế, và luận án tiến sĩ Tiểu thuyết Việt Nam thập niên đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn phân tâm học của Văn Thị Phương Trang.
  • Nữ quyền luận: Khảo cứu của Trần Huyền Sâm (Nữ quyền luận ở Pháp và tiểu thuyết nữ đương đại Việt Nam), Phùng Gia Thế và Trần Thiện Khanh (Văn học và giới nữ), Trần Ngọc Hiếu, Hiền Nguyễn.
  • Lý thuyết hậu hiện đại: Các bài viết đặt nền tảng của Lã Nguyên, Đào Tuấn Ảnh, Cao Kim Lan; mục từ trong Từ điển thuật ngữ văn học (Trần Đình Sử, Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi chủ biên); kỷ yếu hội thảo tại Huế (2011) và Đại học Sư phạm Hà Nội (2013); các công trình của Lê Huy Bắc, Phùng Gia Thế (Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam đương đại (giai đoạn 1986-2012), Văn học Việt Nam sau 1986 phê bình đối thoại); luận án tiến sĩ của Nguyễn Hồng Dũng (Ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại Việt Nam từ 1986-2010); cùng các bài viết của nhóm tác giả hải ngoại (Nguyễn Hưng Quốc, Hoàng Ngọc Tuấn, Nguyễn Minh Quân).

Về việc ứng dụng lý thuyết hệ hình trong nghiên cứu văn học Việt Nam, tác giả điểm qua các nghiên cứu của Trần Thiện Khanh (Văn học sau 1986 vẫn thuộc hệ hình phản ánh tác giả), Phan Tuấn Anh (Sứ mệnh của nhà văn trẻ với những bước chuyển hệ hình trong văn học Việt Nam), Phạm Thị Phương (Cuộc vượt biên hệ hình nghệ thuật hiện thực xã hội chủ nghĩa của Trần Dần trong tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn), và đặc biệt là hệ thống công trình của Đỗ Lai Thúy (Thơ như là mỹ học của cái khác, Sống trải lý thuyết và lý thuyết hệ hình của tôi, Lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ XX nhìn từ lý thuyết hệ hình).

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là: phần lớn các nghiên cứu trước đây vẫn nhìn nhận văn học dựa trên tiêu chí lịch sử - xã hội ngoại quan, hoặc dừng lại ở cấp độ phân tích tác giả, tác phẩm, thủ pháp nghệ thuật biệt lập tĩnh tại. Luận án chọn lý thuyết hệ hình làm công cụ trung tâm để tái hiện và giải thích sự vận động nội tại của tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986 qua hai lần chuyển đổi hệ hình (từ tiền hiện đại sang hiện đại, và từ hiện đại sang hậu hiện đại).


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nền tảng lý thuyết chủ đạo của luận án là Lý thuyết hệ hình (Paradigm Theory) do Thomas Kuhn đề xuất trong công trình Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học (The Structure of Scientific Revolutions). Luận án vận dụng các khái niệm hạt nhân của Kuhn gồm: hệ hình (tập hợp các tín niệm, giá trị, kỹ thuật và mẫu giải pháp chung của một cộng đồng), khoa học chuẩn định (giai đoạn nghiên cứu tích lũy trong khuôn khổ hệ hình thống trị), dị thường (những hiện tượng vượt ra ngoài giải thích của hệ hình chuẩn), khủng hoảng và chuyển đổi hệ hình (cuộc cách mạng thay thế hệ hình cũ bằng hệ hình mới).

Để xây dựng khung phân tích cho văn học, luận án thiết lập hệ quy chiếu liên hoàn từ ba tầng bậc: Triết học (quan niệm về thực tại), Mỹ học (phạm trù thẩm mỹ trung tâm) đến Văn học (mô hình kiến tạo tiểu thuyết).

Tầng bậc phân tích Hệ hình Tiền hiện đại Hệ hình Hiện đại Hệ hình Hậu hiện đại
Cơ sở Triết học & Khoa học Vật lý cổ điển Newton, hình học Euclid không gian 3 chiều tĩnh tại; triết học nhị nguyên Descartes; thuyết quyết định luận; nguyên lý loại trừ ("có hoặc không"). Thuyết tương đối Einstein (không-thời gian cong); thuyết lượng tử; phân tâm học Freud (vô thức); nguyên lý bổ sung Bohr ("vừa có vừa không"). Thuyết xác suất lượng tử (trường phái Copenhagen), nguyên lý bất định; triết học ngôn ngữ (Heidegger, Wittgenstein, Foucault, Derrida); thế giới ngẫu nhiên, thực tại là diễn ngôn ("có thể có, có thể không").
Phạm trù Mỹ học trung tâm Cái đẹp: Dựa trên sự hài hòa, trật tự, cân đối (cosmos), gắn liền với Chân và Thiện; mỹ học duy lý và quy phạm (từ Aristotle đến Hegel). Cái cao cả / Siêu tuyệt (the sublime): Hướng đến cái phi thẩm mỹ, cái không thể diễn đạt bằng ý niệm thông thường (Lyotard); mỹ học thiên tài, đề cao tính độc sáng. Cái Khác (the Others): Biến đổi theo điều kiện hậu hiện đại (Derrida), không đối lập nhị phân trung tâm/ngoại vi mà là sự tự khác biệt nội tại ("A khác với chính A"); trò chơi của cái khác.
Mô hình kiến tạo tiểu thuyết Viết về cuộc phiêu lưu ("Kể nội dung"): Dựa trên cốt truyện nhân quả tuyến tính, nhân vật tâm lý ổn định, khuôn khổ có sẵn; bảo toàn tính chính xác của thông tin truyền đạt. Phiêu lưu của cái viết ("Viết nội dung"): Cái viết là nhân vật chính; cốt truyện truyền thống bị mờ hóa; cấu trúc phi tuyến tính, phân mảnh; giải trung tâm tác giả. Viết về cái viết: Siêu hư cấu (metafiction); tác giả/nhân vật tự phản tư về hành vi viết; sử dụng kỹ thuật giễu nhại, liên văn bản, trò chơi văn bản; chấp nhận và thâm nhập vào sự hỗn độn.

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính cụ thể:

  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành văn hóa - văn học: Khảo sát quá trình hình thành và vận động của các hệ hình văn hóa - văn học dựa trên các điều kiện triết học, kinh tế, xã hội và lịch sử đặc thù của Việt Nam.
  • Phương pháp cấu trúc và hệ thống: Nghiên cứu một cách chỉnh thể lý thuyết hệ hình của Thomas Kuhn và ba hệ hình văn hóa - văn học (tiền hiện đại, hiện đại, hậu hiện đại).
  • Phương pháp so sánh: So sánh lịch đại (trước và sau 1986) và so sánh đồng đại (sự song hành, đan xen giữa các khuynh hướng tiểu thuyết trong cùng thời kỳ) nhằm nhận diện dấu hiệu đặc trưng của từng hệ hình và xác định vị trí của từng tác giả, tác phẩm.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp, khảo sát và thống kê: Thống kê, phân tích ngữ liệu văn bản tiểu thuyết để minh chứng cho các luận điểm lý thuyết.

Nguồn tư liệu nghiên cứu gồm các văn bản tiểu thuyết tiêu biểu xuất bản tại Việt Nam từ sau năm 1986 cùng các công trình lý luận, phê bình văn học trong và ngoài nước liên quan đến thi pháp học, tự sự học và chủ nghĩa hậu hiện đại.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 theo hai bình diện lịch sử và lý thuyết tiếp cận. Tác giả phân tích những đóng góp của thi pháp học, tự sự học, phân tâm học, nữ quyền luận và lý thuyết hậu hiện đại trong việc khám phá cấu trúc văn bản nghệ thuật.

Chương này rút ra nhận xét: các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở cấp độ thủ pháp (như giễu nhại, liên văn bản, dòng ý thức) hoặc đánh giá tác phẩm tĩnh tại. Việc xác định hiện đại và hậu hiện đại thuần túy qua dấu hiệu hay cảm thức dễ dẫn đến việc đánh đồng hai khái niệm hoặc tạo ra các tranh luận thiếu nhất quán (điển hình là việc cùng một tác giả như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh vừa được xếp vào hiện đại vừa được coi là hậu hiện đại). Từ việc phân tích các thể nghiệm ứng dụng lý thuyết hệ hình của Trần Thiện Khanh, Phan Tuấn Anh, Phạm Thị Phương và Đỗ Lai Thúy, chương 1 khẳng định sự cần thiết của một công trình nghiên cứu toàn diện vận dụng lý thuyết hệ hình để làm rõ sự vận động nội tại của tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986.

Chương 2: Lí thuyết hệ hình với đối tượng tiểu thuyết Việt Nam sau 1986

Chương 2 trình bày có hệ thống lý thuyết hệ hình của Thomas Kuhn, phân tích cơ chế vận hành từ khoa học chuẩn định, khủng hoảng đến chuyển đổi hệ hình. Luận án chuyển di lý thuyết này sang lĩnh vực nghiên cứu văn học bằng cách thiết lập sự tương thích giữa ba cuộc cách mạng triết học (gắn với sự thay đổi của vật lý học: cổ điển Newton, tương đối - lượng tử Einstein/Bohr, và xác suất lượng tử), ba hệ hình mỹ học (Cái đẹp, Cái cao cả/Siêu tuyệt, Cái Khác) và ba mô hình kiến tạo tiểu thuyết:

  • Hệ hình tiểu thuyết tiền hiện đại: mô hình Viết về cuộc phiêu lưu (Kể nội dung).
  • Hệ hình tiểu thuyết hiện đại: mô hình Phiêu lưu của cái viết (Viết nội dung).
  • Hệ hình tiểu thuyết hậu hiện đại: mô hình Viết về cái viết (tự phản tư, trò chơi văn bản).

Chương 2 luận giải rằng quan niệm về thực tại là tiêu chí nền tảng của mọi tiêu chí để phân định các hệ hình văn học, tạo tiền đề lý luận trực tiếp cho việc triển khai phân tích ở hai chương tiếp theo.

Chương 3: Sự vận động của quan niệm về thực tại trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986

Chương 3 đi sâu khảo sát sự dịch chuyển quan niệm về thực tại trong các tác phẩm tiểu thuyết cụ thể từ sau năm 1986 qua ba nấc thang hệ hình:

  • Thực tại khách quan tiền hiện đại: Khảo sát các sáng tác mang tính chất chuyển tiếp, cởi trói tư duy phản ánh hiện thực đơn tuyến (như Thời xa vắng của Lê Lựu, Bến không chồng của Dương Hướng), nơi thực tại đời sống vẫn tồn tại độc lập bên ngoài và nhà văn tìm cách phản ánh chân thực các quy luật xã hội.
  • Thực tại đa chiều, tâm linh và vô thức hiện đại: Khảo sát sự mở rộng biên độ thực tại sang thế giới tâm cảm, giấc mơ, ám ảnh chiến tranh và bản năng con người trong các tác phẩm như Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), các tiểu thuyết của Tạ Duy Anh (Lão Khổ, Thiên thần sám hối, Đi tìm nhân vật).
  • Thực tại phân mảnh, giải cấu trúc và hư cấu hậu hiện đại: Khảo sát các tác phẩm của Nguyễn Bình Phương (Thoạt kì thủy, Người đi vắng, Ngồi, Mình và họ), Nguyễn Việt Hà (Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn), Thuận (T mất tích, Pari 11-8, Chinatown) và Đoàn Minh Phượng (Và khi tro bụi, Mưa ở kiếp sau). Ở đây, thực tại không còn là một khối thuần nhất mà bị phân rã thành các mảnh ghép ngẫu nhiên, phụ thuộc vào diễn ngôn và sự biểu đạt ngôn ngữ.

Chương 4: Sự vận động của quan niệm về viết trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986

Chương 4 tập trung phân tích sự đổi mới phương thức tự sự và nghệ thuật viết qua các giai đoạn:

  • Sự chuyển dịch từ lối kể nội dung truyền thống (cốt truyện đóng, nhân vật điển hình, người kể chuyện toàn tri) sang phiêu lưu của cái viết trong tiểu thuyết hiện đại với kỹ thuật dòng ý thức, độc thoại nội tâm, không-thời gian đồng hiện và sự mờ hóa cốt truyện.
  • Sự hình thành mô hình viết về cái viết trong tiểu thuyết hậu hiện đại: phân tích các thủ pháp siêu hư cấu, kỹ thuật giễu nhại (parody), liên văn bản, trò chơi văn bản, phá vỡ ranh giới thể loại và giải trung tâm người kể chuyện. Luận án chỉ ra sự thay đổi căn bản trong mối quan hệ giữa tác giả, văn bản và người đọc, nơi hành vi viết trở thành đối tượng tự nhận thức của tác phẩm.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án là một trong những công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên tại Việt Nam áp dụng lý thuyết hệ hình của Thomas Kuhn vào đối tượng tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986. Công trình góp phần khẳng định tính khả thi và giá trị ứng dụng của lý thuyết hệ hình đối với các ngành khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là nghiên cứu văn học. Đồng thời, luận án làm rõ các tiêu chí phân định khái niệm giữa thời kỳ hiện đại, chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại thông qua tiêu chí cốt lõi là quan niệm về thực tại.

Về mặt thực tiễn, luận án đem đến một cách tiếp cận nội quan để phân kỳ và đánh giá tiến trình văn học Việt Nam dựa trên sự vận động tự thân của thể loại thay vì phụ thuộc thuần túy vào các mốc sự kiện lịch sử - xã hội bên ngoài. Luận án xác lập vị trí, vai trò của các tác giả và tác phẩm tiêu biểu đóng vai trò chuyển đổi hoặc hoàn chỉnh hệ hình trong diễn trình tiểu thuyết từ sau năm 1986 đến nay.

Về kiến nghị và giải pháp, luận án đề xuất mở rộng việc vận dụng khung phân tích hệ hình (từ triết học, mỹ học đến thể loại) để nghiên cứu các giai đoạn lịch sử văn học khác cũng như các thể loại văn học khác trong tiến trình văn học Việt Nam thế kỷ XX.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt phạm vi, luận án tập trung khảo sát thể loại tiểu thuyết sau năm 1986, chưa bao quát toàn bộ các thể loại khác của văn xuôi (như truyện ngắn, ký) hoặc thơ ca trong cùng thời kỳ.

Về hướng nghiên cứu tiếp theo, văn bản gợi mở việc tiếp tục hoàn thiện khung lý thuyết hệ hình để áp dụng cho các thể loại khác như thơ (tiếp nối các nghiên cứu của Đỗ Lai Thúy) hoặc khảo sát sự chuyển đổi hệ hình trong toàn bộ tiến trình văn học Việt Nam giai đoạn trung đại sang hiện đại đầu thế kỷ XX.


Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đối tượng và mục đích học thuật cụ thể:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Ngữ văn, Lý luận văn học, Văn hóa học: Cung cấp khung lý thuyết hệ hình và phương pháp luận tiếp cận nội quan để giải mã tác phẩm văn học đương đại.
  • Giảng viên đại học và cao đẳng: Phục vụ công tác giảng dạy các chuyên đề văn học Việt Nam hiện đại, tiến trình văn học sau 1975, thi pháp học và văn học hậu hiện đại.
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất:
    • Chương 2 với sơ đồ đối sánh ba hệ hình triết học - mỹ học - mô hình tiểu thuyết.
    • Các phân tích văn bản chuyên sâu ở Chương 3 và Chương 4 về tác phẩm của Nguyễn Bình Phương, Thuận, Tạ Duy Anh, Phạm Thị Hoài và Bảo Ninh.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án vận dụng lý thuyết hệ hình của Thomas Kuhn qua những khái niệm cốt lõi nào?
Luận án vận dụng các khái niệm hạt nhân gồm: hệ hình (paradigm), khoa học chuẩn định (normal science), dị thường (anomaly), khủng hoảng (crisis) và chuyển đổi hệ hình (paradigm shift), áp dụng chúng để giải thích quy luật vận động nội tại của văn học từ tiền hiện đại sang hiện đại và hậu hiện đại.

2. Ba mô hình kiến tạo tiểu thuyết tương ứng với ba hệ hình văn học được xác định là gì?
Ba mô hình tiểu thuyết gồm:

  • Hệ hình tiền hiện đại: Viết về cuộc phiêu lưu (phương thức "kể nội dung", cốt truyện nhân quả).
  • Hệ hình hiện đại: Phiêu lưu của cái viết (phương thức "viết nội dung", cái viết là nhân vật chính, mờ hóa cốt truyện).
  • Hệ hình hậu hiện đại: Viết về cái viết (siêu hư cấu, tự phản tư hành vi viết, trò chơi văn bản).

3. Tiêu chí cơ sở nào được tác giả sử dụng để phân định ranh giới giữa các hệ hình?
Luận án xác định quan niệm về thực tại (tiêu chí triết học bắt nguồn từ các cuộc cách mạng trong vật lý học) là "tiêu chí của những tiêu chí" để phân biệt tiền hiện đại (thực tại khách quan độc lập), hiện đại (thực tại tương đối, đa chiều, vô thức) và hậu hiện đại (thực tại là diễn ngôn ngôn ngữ, bất định, hỗn độn).

4. Những tác giả và tác phẩm nào là đối tượng khảo sát trọng tâm của luận án?
Luận án khảo sát các tác giả và tác phẩm tiêu biểu: Lê Lựu (Thời xa vắng), Dương Hướng (Bến không chồng), Phạm Thị Hoài (Thiên sứ), Bảo Ninh (Nỗi buồn chiến tranh), Tạ Duy Anh (Lão Khổ, Thiên thần sám hối, Đi tìm nhân vật), Nguyễn Bình Phương (Thoạt kì thủy, Người đi vắng, Ngồi, Mình và họ), Nguyễn Việt Hà (Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn), Thuận (T mất tích, Pari 11-8, Chinatown), Đoàn Minh Phượng (Và khi tro bụi, Mưa ở kiếp sau).

5. Vì sao luận án cho rằng việc nhận diện hậu hiện đại thuần túy ở cấp độ thủ pháp nghệ thuật là chưa thỏa đáng?
Theo luận án, các thủ pháp nghệ thuật (như giễu nhại, liên văn bản, trò chơi, phân mảnh) có thể dễ dàng mô phỏng hoặc đã từng xuất hiện ở các tác giả hiện đại. Việc chỉ dựa vào thủ pháp dễ dẫn đến việc đánh đồng hiện đại với hậu hiện đại; điểm căn cốt để làm nên một tác phẩm hậu hiện đại thực sự nằm ở quan niệm về thực tại và cái nhìn nghệ thuật của nhà văn đối với thế giới hỗn độn.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hoài An là công trình nghiên cứu chuyên sâu về sự đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986 thông qua khung lý thuyết hệ hình của Thomas Kuhn. Bằng việc xây dựng hệ quy chiếu liên hoàn từ triết học, mỹ học đến mô hình thể loại, luận án đã làm sáng tỏ hai bước chuyển đổi hệ hình từ tiền hiện đại sang hiện đại và hậu hiện đại trong văn học Việt Nam đương đại. Công trình cung cấp một cách tiếp cận nội quan khoa học, góp phần định vị chính xác giá trị cách tân của các tác gia, tác phẩm tiêu biểu trong tiến trình tiểu thuyết Việt Nam.