Chương 1 BỨC TRANH VĂN HOÁ LÀNG QUÊ TRONG BA TIỂU THUYẾT: THỜI XA VẮNG, BẾN KHÔNG CHỒNG, MẢNH ĐẤT LẮM NGƯỜI NHIỀU MA 1. Bức tranh nông thôn đa dạng với nhiều phong tục tập quán Nền văn hoá truyền thống Việt Nam được hình thành trên cơ sở của nền văn hoá nông nghiệp. Cuộc sống của mỗi người Việt Nam đều gắn bó mật thiết với xóm làng, quê hương. Chính bởi vậy, nói đến văn hoá làng quê là đề cập đến một bức tranh nhiều màu sắc của sự đa dạng phong phú những phong tục tập quán.
Phong tục tập quán là những nền nếp đã lan truyền rộng rãi, thói quen phổ biến, có từ lâu đời, được truyền từ đời này sang đời khác. Nội dung phong tục tập quán bao hàm tất cả mọi mặt trong đời sống xã hội. Trong văn hoá Việt Nam, phong tục có thứ trở thành luật tục, ăn sâu, bén rễ trong nhân dân rất bền chặt, có sức mạnh hơn cả những đạo luật. Tuy nhiên, khi nghiên cứu phong tục tập quán, một thực tế cần phải nhìn nhận là có những phong tục tập quán tốt, tích cực, có những phong tục tập quán không tốt, tiêu cực.
Dẫu vậy, dù tốt hay không tốt, dù tích cực hay tiêu cực thì những phong tục tập quán ấy cũng góp phần hình thành nên sự đặc sắc của văn hoá nông thôn, sự đặc sắc của văn hoá dân tộc. Trong cái ý thức tiểu nông tồn tại từ bao đời, người nông thôn thường có quan niệm: “ăn cây nào rào cây ấy”, ở các làng quê Việt Nam, người ta thường có xu hướng thích đề cao làng mình. Với họ, làng mình cái gì cũng nhất, cái gì cũng hơn thiên hạ: “Đình làng Đông to nhất. Cây quéo làng Đông cao nhất.
Cầu đá làng Đông đẹp nhất; nước sông Đình cũng mát nhất” [18, tr. Chính vì vậy, bất cứ địa danh nào nổi bật của địa phương cũng được người ta nâng niu bằng vô số những câu chuyện huyền thoại, truyền thuyết hoá chúng; một mặt, để bồi dưỡng thêm sự gắn bó, lòng tự hào của người dân; mặt khác, để cho bất cứ ai đến làng mình, nghe chuyện làng mình cũng phải nhớ, cũng phải ấn tượng. Cái làng Đông của Bến không chồng dẫu nhỏ bé và cũng bình dị như bao làng quê khác, nhưng nó lại là cái kho của những huyền thoại. Từ dòng sông, bến nước, đến bãi tha ma của làng đều ẩn chứa bao câu chuyện thần bí.
Nào là chuyện về hồ “mắt tiên” quanh năm trong vắt, là nơi mà đàn bà con gái làng Đông có nỗi oan khuất đều trốn ra hồ tắm để được giải oan. Người ta kể rằng, cô Ngần – một người con gái đẹp nhất làng Đông - bị cha mẹ ép gả cho người cô không yêu nên đêm tân hôn cô trốn ra hồ nước giữa đồng tự vẫn, từ đó, cái hồ nước tanh hôi như một vũng nước trâu đằm, lau sậy um tùm, cá rúc, quốc lủi hôi xì, đỉa bơi cung quăng, ếch nhảy chòm chõm. bỗng trở nên trong vắt quanh năm, cỏ lau lụi tàn, quốc, cú lủi sạch, đỉa cũng mất tăm và chính nhờ hồ mắt tiên mà gái làng Đông da cô nào cũng trắng mịn, mang nhiều nét khêu gợi của tiên nữ; Nào là chuyện gò ông Đổng, nơi yên nghỉ của người con trai làng Đông dũng cảm, không chết nơi trận mạc mà chết khi trở về nghe tin vợ ngoại tình. Và người ta bảo trai làng Đông cũng có chí khí khác thường vì mang dòng máu của người chiến binh năm xưa; Nào là chuyện về con ma ở gốc ruối đầu cánh mả Rốt chuyên hãm hiếp những người đàn bà goá chồng; Nào là chuyện ba ba thuồng luồng ngoài bến sông.
Rồi đến cái làng Giếng Chùa trong Mảnh đất lắm người nhiều ma, quanh năm vật lộn với cái ăn cái mặc, với việc chia ruộng đất, với những mưu đồ về địa vị., cũng tồn tại không ít giai thoại. Làng Giếng Chùa không biết từ bao giờ tồn tại câu ca: “Ai may được ngọc Giếng Chùa , rủi ai núi Bụt thả bùa trêu ma”. Các câu chuyện được kể đều liên quan đến câu ca đó. Người ta kể rằng hồi làng còn chùa, còn chiếc giếng làng to bằng gian nhà kè đá ong trước cửa tam quan, người ta có thể bắt được ngọc ở đó.
Hay những câu chuyện ma mãnh trên núi ông Bụt: ma trêu người trần, ma quyến rũ người trần. Mỗi làng đều xây dựng những kho truyền thuyết khác nhau và không thua kém nhau về mức độ hấp dẫn. Những kho truyền thuyết ấy được hình thành từ tình yêu làng quê thôn xóm thiết tha, sâu lắng, xuất phát từ nhận thức giản đơn, ngây thơ của người dân và ý thức muốn tôn vinh làng, tôn vinh những con người của làng mình. Bởi thế nên, thế hệ trước nối thế hệ sau, luôn nhắc nhở nhau một ý thức: đã là người làng mà “không biết tích làng là hỏng”.
Làng không chỉ là những truyền thuyết, cuộc sống thực của các làng quê với sự đa dạng, phong phú về các quan niệm, về đời sống tín ngưỡng, về những mối quan hệ giữa con người với làng, giữa người với người trong đời sống thường nhật. cũng là một cái mỏ vô tận cho ta khai thác, thưởng thức. Trong đời sống tín ngưỡng, người Việt Nam nói riêng, người phương Đông nói chung tiếp thu tư tưởng phật giáo, thường hay có tục thờ cúng ông bà tổ tiên. Đây là một nét văn hoá đẹp.
Đối với các dòng họ ở nông thôn, mỗi năm họ có một ngày giỗ tổ, hay còn gọi là ngày chạp tổ. Việc này do tộc trưởng chủ trì. Người trưởng họ có một thứ quyền lực riêng. Trưởng họ còn thường được hưởng ruộng hương hoả, tự điền để lấy kinh phí lo việc họ.
Ruộng hương hoả, tự điền nhiều thì lễ to, nhà thờ họ lớn, tế khí đầy đủ và ngược lại. Sau này, ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân, không còn ruộng hương hoả, những người trong họ sẽ cùng nhau đóng góp theo các xuất đinh của từng gia đình ( gia đình có bao nhiêu nam thì tương đương bằng ấy xuất đinh) để lo sửa sang nhà thờ họ, cúng kính, cỗ bàn. Ngày giỗ tổ hàng năm là ngày con cháu sinh sống, làm ăn ở khắp mọi nơi về họp mặt đông đủ để tưởng nhớ tổ tiên, tưởng nhớ những người đã chết và để những người còn sống trao đổi thông tin về cuộc sống, thắt chặt thêm tình anh em máu mủ ruột già, dây mơ rễ má. Dòng họ Nguyễn trong Bến không chồng cũng có những ngày giỗ tổ như thế.
Họ Nguyễn to nhất làng Đông. Từ đường họ Nguyễn cũng to nhất làng Đông. Ngôi từ đường ấy gồm ba gian cùng với một gian hậu cung, nơi đặt bàn thờ tổ: “Ba gian từ đường có hai hàng cột cái và hai hàng cột con, cả thảy là mười sáu cột. Những chiếc cột lim to một ôm đẫy cứ đen bóng lên.
Các chân cột đặt tảng đá xanh nổi vân trắng, nền từ đường lát đá đỏ, ngoài thềm lát đá xanh. Gian hậu cung cuốn bằng gạch chỉ vữa trộn mật với vôi, cát, rắn như đá. Trên bệ thờ là những con rồng sơn son thiếp vàng rực rỡ, cỗ ngai đặt ở giữa bệ thờ, có bát hương to lúc nào cũng toả khói thơm ngát. Gian giữa từ đường thêm bốn câu đối trên bốn cột cái” [18, tr.
Đấy chính là mồ hôi nước mắt của cả họ tộc qua bao đời đã để lại. Cái cơ ngơi ấy do cụ Nguyễn Nghiên, người đứng đầu dòng họ Nguyễn lúc bấy giờ cai quản. Gia đình cụ Nguyễn Nghiên mấy đời độc đinh, sau cụ Nguyễn Nghiên, đến con trai ông là Nguyễn Khiên, rồi cuối cùng là Nghĩa – cháu nội ông. Lễ chạp tổ được nói đến trong tiểu thuyết rơi vào đời ông Nguyễn Khiên, khi ông mới hơn bốn chục tuổi.
Đấy là cái lễ chạp tổ đầu tiên sau ngày hoà bình, vì vậy, các cụ trong họ bảo phải làm thật to. Họ bàn bạc, tranh cãi và cuối cùng quyết định “chín chục mâm, mỗi mâm hai bát năm đĩa. Ban sắp cỗ gồm bảy tay dao thớt, sáu đàn bà ngồi bếp, hai thanh niên bổ củi, bốn cô gái gánh nước. Ngoài ra còn các nhân vật chén bát sai vặt.
Có thể nói, ngày chạp tổ chính là ngày hội, là thế giới tinh thần, vật chất của cả họ. Mỗi năm có một ngày chạp tổ, mỗi nhà một cảnh, quanh năm làm ăn, bỗng dưng lại tụ tập đánh chén một bữa, đoàn kết, thân mật, không phân biệt sang hèn, không phân chia địa vị: “từ ông giáo Thảo đức độ có tiếng, đến nhà chú Bỉnh chuyên đi trộm khoai, trộm chuối, từ ông Hưng phó chủ tịch đến nhà chú Dĩ ba đời gắp cứt trâu. Dẫu rằng việc tổ chức giỗ chạp linh đình, rùm beng như vậy có hơi tốn kém về thời gian và tiền bạc, lại dễ nảy sinh mê tín dị đoan. Nhưng chính việc ấy, nếu được tổ chức đúng mức, sẽ phát huy được thuần phong mĩ tục, làm phong phú thêm đời sống tinh thần của nhân dân ta.
Như đã nói ở trên, cũng như một số nước phương Đông khác, phần đông người dân Việt theo tín ngưỡng phật giáo, có tập tục thờ cúng người chết vì họ tin rằng con người có phần hồn, phần xác, có kiếp trước, kiếp sau. Cái quan niệm ấy có thể khiến người ta sống tốt hơn, lương thiện hơn để tu nhân tích đức cho hậu thế, tránh quả báo ở đời. Thế nhưng, cái suy nghĩ ấy cũng làm hình thành trong nhân dân biết bao điều mê tín, bao hành động ngây thơ, mù quáng đến là tức cười. Bà đồ Khang (Thời xa vắng) thấy con trai bị cảm lạnh, mê man bất tỉnh, không đi kiếm thầy thuốc mà vội vàng ra sân để “gọi hồn, gọi vía” con về.
Quan niệm dân gian cho rằng con người ta, con trai có “ba hồn bảy vía”, con gái có “ba hồn chín vía”. Hồn, vía có thể thoát khỏi xác khi giật mình, khi sợ hãi quá, khi ngủ hoặc là khi ngất xỉu. Thằng Sài sợ đòn, trốn cha ngoài cánh đồng trong một đêm sương giá nên bị cảm đến mức hôn mê. Với niềm tin như thế, bà đồ Khang và mọi người hốt hoảng cầu gọi: “Ba hồn bẩy vía thằng Sài đâu thì về”, Bẩy vía ba hồn Sài ơi về với mẹ đi con”, “Bẩy vía ba hồn thằng Sài ở đâu tthì về với bố , với mẹ Sài ơi”.
Cũng may, ngoài gọi hồn, gọi vía, người ta còn kết hợp với những cách giải cảm dân gian khác nên thằng Sài mới thoát chết. Cũng từ những quan niệm mê muội, ấu trĩ ấy mà làng Giếng Chùa (Mảnh đất lắm người nhiều ma) lổn nhổn, lẫn lộn người với ma, ma với người.