Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TOÀ ÁN VÀ VIỆN KIỂM SÁT TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM MỐI QUAN HỆ GIỮA TOA ÁN VÀ VIEN KIỂM SÁT TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1.1 Vị trí pháp lý của Toà án trong tô tụng hình sự Với tư cách là một trong các chủ thể của quan hệ pháp luật TTHS, Toà án có vị trí pháp lý quan trọng, "là biểu hiện tập trung của quyền tư pháp -nơi mà kết quả của hoạt động điều tra, công tố, bào chữa. được kiểm tra, xem xét một cách công khai thông qua thủ tục tố tụng do luật định để đưa ra những phán quyết cuối cùng mang tính chất quyền lực Nhà nước, nơi phản ánh một cách đầy đủ và sâu sắc bản chất nền công lý của chế độ ta”.[14] Toà án là cơ quan duy nhất thực hiện chức năng xét xử, giải quyết những vấn đề thuộc về bản chất vụ án bao gồm xác định có tội hoặc không có tội, định tội danh, quyết định loại và mức hình phạt đối với người phạm tội. Ở nước ta, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, Toà án là cơ quan duy nhất có chức năng xét xử và đây là chức năng không thể thay thế được bởi bất kỳ cơ quan nhà nước nào Lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt nam đã chứng minh rằng ở Việt Nam chỉ có Toà án mới có chức năng xét xử. Từ Hiến pháp năm 1946, năm 1959, Luật tổ chức TAND năm 1960, Hiến pháp năm 1980, Luật tổ chức Toà án năm 1981, Hiến pháp năm 1992.và gần đây nhất là Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002 đều khẳng định Toà án nhân dân là chủ thể duy nhất thực hiện chức năng xét xử.
„ Điều 127 Hiến pháp năm 1992 quy định “Toà án nhân dân Tối cao, Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước cộng hoà XHCN Việt nam”. `› Chính chức năng xét xử của Toà án quy định các nhiệm vụ cụ thể của Toà án trong hoạt động của mình. Khi thực hiện chức năng xét xử, Toà án có trách nhiệm phải làm sáng tỏ tất cả các tình tiết của vụ án, cả tình tiết buộc tội, tình tiết gỡ tội, tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo nhằm xác định sự thật khách quan về vụ án. Để Toà án có thể thực hiện được chức năng xét xử, pháp luật TTHS đã quy định cho Toà án thẩm quyền xét xử.
Thẩm quyền xét xử " là tập hợp các dấu hiệu của một vụ án mà dựa vào đó pháp luật TTHS quy định Toà án nào phải xét xử vụ án d6".[10] Tức là dua vào các dấu hiệu này để phân định Toa án được xét xử những vụ việc gì, phân biệt thẩm quyền theo cấp và theo lãnh thổ. Việc quy định đúng thẩm quyền của Toà án các cấp đảm bảo cho việc xét xử chính xác, khách quan, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người liên quan. Việc xác định đúng đắn thẩm quyền của Toà án cũng kéo theo việc quy định nhiệm vụ, thẩm quyển của các cơ quan tiến hành tố tụng khác như cơ quan điều tra, viện kiểm sát. ) Đồng thời với nhiệm vụ xét xử thì Toà án còn có vai trò rất quan trọng trong thi hành án hình sự thông qua việc ra quyết định thi hành án; cùng với cơ quan công an theo dõi việc thi hành án và quyết định nhiều vấn đề khác liên quan đến việc thi hành án như tham gia xét giảm, hoãn, tạm đình chỉ, miễn chấp hành hình phạt tù.
| Trong TTHS, các quyền va nghĩa vu của Toa án được quy định cu thé tại các chương từ XV đến chương XXXII BLTTHS. Các quyền và nghĩa vụ của Toà án phát sinh kể từ khi Toà án nhận được hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển sang và được thể hiện trong các hoạt động như chuẩn bị xét xử, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và thi hành án hình sự. Cũng như ở Việt Nam, pháp luật ở tất cả các nước đều ghi nhận Toà án là cơ quan thực hiện chức năng xét xử. Tuy nhiên, vi trí, vai trò và phạm vi thẩm quyền của Toà án trong thực hiện chức năng xét xử được quy định khác nhau giữa các nước theo hệ thống luật án lệ và các nước theo hệ thống luật lục địa.
Ở các nước theo hệ thống luật án lệ, ba chức nang cơ ban của TTHS là buộc tội, bào chữa và xét xử được phân định rõ ràng giữa bên buộc tội, bên bào chữa và Toà án. Vai trò của Toà án ở các nước này được xác định là người trọng tài đứng giữa hai bên buộc tội và bào chữa làm nhiệm vụ phân xử. Toà án là nơi ra quyết định cuối cùng về vụ án để kết thúc quá trình tranh tụng giữa các bên. Toà án không có nghĩa vụ trực tiếp chứng minh vụ án mà tập trung vào nhiệm vụ là duy trì trật tự phiên toà, xem xét, ghi nhận các chứng cứ, các yêu cầu, kết luận của hai bên buộc tội và bào chữa về vụ án làm cơ sở cho việc ra quyết định cuối cùng về vụ án.
Theo hệ thống pháp luật này thì vai trò của Toà án tại phiên toà bị hạn chế trong khi vai trò của bên buộc tội và bên bào chữa được quan tâm và đề cao. Ở các nước theo hệ thống luật lục địa, các chức năng cơ bản trong TTHS không được phân định một cách rõ ràng giữa các chủ thể tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng. Toà án với tư cách là chủ thể tiến hành tố tụng, tham gia tích cực vào quá trình chứng minh tội phạm. Vai trò của Toà án không chỉ là người trọng tài đứng giữa bên buộc tội và bên bào chữa để làm nhiệm vụ phân xử mà còn là người tham gia thực hiện cả chức năng buộc lội hoặc chức năng bào chữa.
Pháp luật TTHS ở các nước này giành cho Toà án những quyền han rộng lớn, đồng thời cũng đặt ra khá nhiều nghĩa vụ và trách nhiệm cho Toà án, hầu như toàn bộ quá trình chứng minh bị cáo có tội hay không có tội đều do Toà án đảm nhiệm, còn bên buộc tội và bên bào chữa chỉ tham gia vào quá trình chứng minh ở mức độ hạn chế. Như vậy, do sự khác nhau giữa các trường phái pháp luật, các hình thức tố tụng và quan niệm của các quốc gia đối với vai trò của Toà án trong hoạt động xết xử mà nội dung quyền và nghĩa vụ mà pháp luật TTHS mỗi quốc gia quy định cho Toà án để thực hiện chức năng xét xử có khác nhau: hoặc là giao cho Toà án quá nhiều quyền và nghĩa vụ, hoặc hạn chế các quyền và trách nhiệm của Toà án. Điều này ảnh hưởng ít nhiều tới việc thực hiện các chức năng tố tụng, ảnh hưởng tới hiệu quả của TTHS.2 Vị trí pháp lý của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự La cơ quan tiến hành tố tụng xuất hiện ngay từ những hoạt động đầu tiên của quá trình giải quyết vụ án, Viện kiểm sát giữ vị trí quan trọng trong TTHS. Pháp luật TTHS Việt Nam đã quy định cho Viện kiểm sát những quyền năng pháp lý quan trọng, đó là thực hành quyền công tố (thực hiện sự buộc tội nhân danh nhà nước) và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng khác.
Hai chức năng này của Viện kiểm sát được ghi nhận lần đầu tiên trong Luật tổ chức VKSND năm 1960 và tiếp tục được khẳng định trong Hiến pháp năm 1980, Luật tổ chức VKSND năm 1981, Hiến pháp năm 1992, Luật tổ chức VKSND năm 1992. Điều 137 Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức VKSND mới được Quốc hội sửa đổi thông qua ngày 02/4/2002 vẫn tiếp tục khẳng định Viện kiểm sát thực hiện hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật, nhưng chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật đã được thu hẹp phạm vi là chỉ tiến hành kiểm sát đối với các hoạt động tư pháp, không thực hiện công tác kiểm sát trong lĩnh vực hành chính, kinh tế xa hoi. 7 Trước hết, có thể khẳng định rằng Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất được giao thực hiện chức năng công tố, là co quan có quyền quyết định đưa hay không đưa vụ án ra Toà và thực hiện sự buộc tội đối với bị cáo tại phiên toà. Công tác thực hành quyền công tố tiến hành trong lĩnh vực TTHS được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng.
Quyền công tố là quyền lực nhà nước, có nội dung là buộc tội đối với người thực hiện tội phạm. Còn thực hành quyền công tố trong TTHS là tổng hợp các quyền năng pháp lý để thực hiện quyền buộc tội ấy.[13] Cơ quan thực hành quyền công tố là cơ quan được giao thẩm quyền đưa vụ án ra Toà và điều này được thể hiện ở mỗi nước là rất khác nhau, tuỳ thuộc vào bản chất của chế độ chính trị, truyền thống, điều kiện và hoàn cảnh nội tại của từng nước. Theo BLTTHS Pháp thì vị trí của Viện công tố là: Viện công tố có đại diện ở mỗi toà hình sự. Viện công tố có chức năng thực hiện quyền công tố và yêu cầu áp dụng pháp luật, tham dự các cuộc tranh luận của HĐXX và tất cả các quyết định của Toà được tuyên với sự có mặt 10 của Viện công tố.
Viện công tố đảm bao việc thi hành các quyết định của Toà án.[3|] Ở Trung Quốc, Viện kiểm sát là cơ quan giám sát việc thi hành pháp luật như giám sát pháp luật và kỷ luật, giám sát các vụ án hình sự, giám sát nhà tù, trại giam.Khi thực hiện việc giám sát các vụ án hình sự, Viện kiểm sát có mat tại phiên toà để làm các chức năng công tố, thẩm tra các vụ án hình sự. [5] Ở Việt Nam, căn cứ vào các quy định của pháp luật (từ Hiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992 và các Luật tổ chức VKSND năm 1960, năm 1981, năm 1992, năm 2002) thì chỉ có Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất thực hiện quyền công toViện kiểm sát có quyền quyết định đưa hay không đưa vu án ra Toà, Toà án chỉ xét xử những tội phạm và người phạm tội mà Viện kiểm sát đã truy tố.