Chương 1: Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội -Một số van dé lý luận chung và kinh nghiệm quốc tế Chương 2: Thực trạng giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Chương 3: Quan điểm và giải pháp giải quyết hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam trong thời gian tới. : : Chung! es TANG TRUONG KINH TE VA CONG BANG XA HOI - MOT. SO VAN DE LY LUAN CHUNG VA KINH NGHIEM QUOC TE 1.1 Lý luận chung về quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội 1.1 Tăng trưởng kinh tế 1.1 Khái niệm Việc nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế đã được bắt đầu ngay từ khi khoa học kinh tế chính trị mới hình thành.
Việc nghiên cứu về chủ đề này đã được đặt nền móng từ những nhà kinh tế học chính trị tư sản cổ điển Anh như A. Tăng trưởng kinh tế được hiểu một cách phổ quát theo quan điểm kinh tế học là sự gia tăng sản lượng thực tế của một nền kinh tế theo thời gian (thường là một năm). Điều đó cũng có nghĩa là: tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về số lượng,chất lượng các hàng hoá dịch vụ. Tăng trưởng kinh tế là khái niệm phản ánh về sự gia tăng về lượng của một nền kinh tế, nó chưa nói lên bản chất xã hội của nền kinh tế đó.
Đây là kinh tế “tự thân”, kinh tế vì kinh tế. Để khắc phục tình trạng này các nhà kinh tế đã đưa ra khái niệm Phát triển kinh tế để phản ánh cả mặt “chất” và mặt “lượng” của nền kinh tế. Phát triển kinh tế là khái niệm có nội hàm rộng hơn Tăng trưởng kinh tế, bao gồm cả sự tăng trưởng kinh tế (sự tăng trưởng về lượng) và sự đạt được các chỉ tiêu về chất - trước hết là chất lượng cuộc sống (mức tiêu dùng vật chất; mức hưởng thụ về tiêu dùng dịch vụ và phúc lợi xã hội; sự bình đẳng của con người.) Trong báo cáo về phát triển kinh tế thế giới năm 1992 Ngân hàng thế giới đã đưa ra khái niệm về phát triển kinh tế như sau: “ Phát triển là nâng cao phúc lợi của nhân dân. Nâng cao tiêu chuẩn sống và cải tiến giáo dục, sức khỏe và bình đẳng về cơ hội là những thành phần cơ bản nhất của phát triển kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế là một cách cơ bản dé có được phát triển kinh té.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế: * Các nguôn lực kinh tế Sau khi nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển và các nước phát triển, các nhà kinh tế học đã phát hiện ra rằng động lực phát triển kinh tế phải đi cùng trên bốn bánh xe, hay bốn nhân tố của tăng trưởng kinh tế là vén(tu bản), nguồn tài nguyên, công nghệ và nhân lực. Bốn nhân tố này khác nhau ở các quốc gia và cách kết hợp chúng cũng khác nhau đưa đến những kết quả tương ứng. - Von (tư bản): Vốn được hiểu là một bộ phận tài sản được sử dụng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Vốn thường tồn tại dưới hai dạng: Vốn tài chính và vốn vật chất.
Vốn tài chính là vốn tồn tại dưới hình thức tiền tệ hay các loại chứng khoán còn vốn vật chất là vốn tồn tại dưới dang nhà xưởng, máy móc thiết bị.tham gia vào quá trình sản xuất. Vốn tài chính và vốn vật chất có môi quan hệ gắn bó với nhau và không ngừng chuyền hoá cho nhau. Đây là là một trong những nhân tố sản xuất, tùy theo mức độ vốn mà người lao động được sử dụng máy móc, thiết bi. nhiều hay ít (tỷ lệ vốn trên một đơn vị lao động) và tạo ra sản lượng cao hay thấp.
Để có được vốn phải thực hiện đầu tư, điều này rất quan trọng trong sự phát triển dài hạn, những quốc gia có có tỷ lệ đầu tư lớn tính trên tổng GDP thường tăng trưởng kinh tế cao và bền vững. Tuy nhiên, vốn không chỉ là máy móc, thiết bị do tư nhân đầu tư cho sản xuất mà nó cũng là tư bản cố định xã hội, những thứ tạo tiền đề cho cho sản xuất và thương mại phát triển. Tư bản cố định xã hội thường là những dự án quy mô lớn, gần như không thé chia nhỏ được và có lợi suất tăng dan theo quy mô nên phải do chính phủ thực hiện. Ví dụ: hạ tầng của sản xuất (đường giao thông, mạng lưới điện quốc gia.
Vốn đầu tư chiếm một vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình tăng trưởng và phát triển. Đầu tư ở Trung Quốc tăng từ 30,2% những năm 70 lên 35,7% những năm 80,ty lệ tăng trưởng tăng lên tương ứng từ 5,9% lên 9,0%. Ngược lại đầu tư của Đài Loan giảm từ 29,6% xuống 23,7% khiến tỷ lệ tăng trưởng giảm từ 10% xuống 8%. - Tài nguyên thiên nhiên: Là một trong những yếu tố sản xuất cỗ điền.
Những tai nguyên quan trọng nhất là đất dai, tài nguyên trong lòng đất, rừng và nguồn nước. Tài nguyên thiên nhiên đóng vai trò quan trọng đề phát triển kinh tế. Trước đây, tài nguyên là nhân tố quan trọng nhất của quá trình tăng trưởng. Đặc biệt là tài nguyên đất đai trong nền kinh tế nông nghiệp.
Ricardo đã từng cho rằng đất đai là giới hạn của tăng trưởng kinh tế. Trong giai đoạn hiện nay, nguồn tài nguyên bị khai thác và sử dung 6 ạt nên ngày càng cạn kiệt, nhất là các loại tài nguyên không có khả năng tái sinh. Các nhà kinh tế học đã chỉ ra vấn đề này qua việc phát hiện ra quy luật về sự khan hiểm của tải nguyên. Ngay cả tài nguyên trước đây được coi là vô tận như nước, cũng đang trở nên suy giảm bởi sự sử dụng và khai thác bừa bãi của con người.
Vì vậy, vấn đề hàng đầu hiện nay của toàn cầu là việc sử dụng các nguồn tài nguyên thé nào cho hợp lý. Công nghệ tiết kiệm tài nguyên và không làm tổn hai môi trường đã được sử dụng rộng rãi ở các nước tiên tiến. Tuy nhiên, ở các nước kém phát triển, do sự lạc hậu và yếu kém về kinh tế, vấn đề khai thác và sử dụng tài nguyên vẫn chưa được quan tâm một cách hợp lý. - Khoa học - công nghệ: Tiến bộ công nghệ là nhân tố giữ vị trí quan trọng đối với quá trình tăng trưởng.
Sự phát triển của kĩ thuật - công nghệ là một trong các nhân tố chính tạo nên những đặc điểm của tăng trưởng kinh tế hiện đại. Tiến bộ công nghệ dẫn đến việc dịch chuyền đường giới hạn khả năng sản xuất ra phía ngoài, sản lượng tăng, thúc day kinh tế phát triển, khoa học và công nghệ giúp cho cùng một lượng lao động và tư bản có thể tạo ra sản lượng cao hơn, nghĩa là quá trình sản xuất hiệu quả hơn. Công nghệ phát triển ngày càng nhanh chóng và ngày nay công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới. có những bước tiến như vũ bão góp phan tăng hiệu quả sản xuất.
- Tài nguyên con người: Ngày nay, lực lượng lao động và vấn đề con người được coi là nhân tố quan trọng nhất của quá trình tăng trưởng. Hầu hết các yếu tố khác như tư bản, nguyên vật liệu, công nghệ đều có thể mua hoặc vay mượn được nhưng nguồn nhân lực thì khó có thể làm điều tương tự. Chính vì vậy vấn đề mà tat cả các quốc gia quan tâm hiện nay là vấn dé nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. * Vai trò của chính phú đối với sự tăng trưởng kinh tế Nhà nước cũng là một nhân tố đặc biệt có ảnh hưởng rất lớn đến sự tăng trưởng cũng như phát triển kinh tế của một quốc gia.
Cho đến nay, mặc dù có rất nhiều dang kinh tế thị trường khác nhau, nhưng trên thực tế, chưa bao giờ tồn tại dạng kinh tế thị trường không có nhà nước, thoát ly khỏi nhà nước, mặc dù về tư tưởng và lý luận, những người theo trường phái tự do cực đoan, hay theo phái vô chính phủ thường phủ nhận vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Trong lịch sử các học thuyết kinh tế, tất cả các trường phái kinh tế lớn đều đề cập đến vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường, từ trường phái Trọng nông đến các trào lưu kinh tế học hiện đại. Thị trường có các khuyết tật vốn có của nó và vì thế điều tiết của nhà nước là tất yếu khách quan nhằm đảm bảo sự ôn định, công bằng và hiệu quả của nền kinh tế. Trong báo cáo về tình hình phát triển kinh tế thế giới, Ngân hàng thế giới (Wold Bank) đã kết luận rằng: “Nhà nước đóng vai trò trung tâm trong phát triển kinh tế và xã hội; không phải với tư cách một người trực tiếp tạo ra sự tăng trưởng; mà là một đối tác, là chất xúc tác và là người tạo điều kiện cho sự tăng trưởng đó”.
* Đặc điểm dân tộc, tôn giáo, văn hóa của quốc gia - Đặc điểm dân tộc: các dân tộc sóng chung trong một cộng đồng quốc gia thường luôn có những đặc điểm khác nhau về văn hóa, kinh tế, tập quán sống và sản xuất. Nếu tăng trưởng kinh tế đem lại lợi ích cho dân tộc này thì gây tổn hại lợi ích cho dân tộc khác mà cũng sẽ là lực cản cho sự tăng trưởng và phát triển, sẽ khó tránh khỏi những xung đột về sắc tộc - Đặc điểm tôn giáo: Trong mỗi một quốc gia thường có nhiều tôn giáo. Các tôn giáo thường có quan niệm, triết lý, tư tưởng riêng khó thay đồi. Các thiên kiến tôn giáo thường tạo ra tâm lý xã hội biệt lập của tôn giáo mình.
Nếu các 10 chính sách đúng đắn thì có thể tạo ra sự hòa hợp giữa các tôn giáo, đây sẽ là nhân tố tích cực tác động tới sự tăng trưởng va phát triển - Đặc điềm văn hóa: Văn hóa dân tộc là phạm trù rộng lớn bao trùm nhiều mặt, từ tri thức phổ thông, khoa học, văn hóa, nghệ thuật đến lối sống, tập quán, cách ứng xử và nó được hình thành và tích lũy trong suốt quá trình phát triển của dân tộc, đồng thời cũng gắn với việc tiếp thu tỉnh hoa văn hóa nhân loại. Có thể nói trình độ văn hóa của một dân tộc là nhân tố cơ bản tao ra chất lượng một đội ngũ lao động, nhân tố quyết định ảnh hưởng tới chất lượng đội ngũ lao động.