chương 1 Nhận định sự quan trọng của quản trị vốn lưu động vì nó có thể ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận và rủi ro của doanh nghiệp, các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam về vấn đề nghiên cứu không nhiều, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu này. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là tìm hiểu sự tác động của chu kì chuyển đổi tiền, kì thanh toán khoản phải trả, kì lưu hàng tồn kho, kì thu khoản phải thu và hệ số đảm nhiệm vốn lưu động đến ROA. Bài nghiên cứu sẽ chạy hồi quy mẫu dữ liệu các công ty niêm yết trên sàn HOSE. Kết quả nghiên cứu sẽ được so sánh với các kết quả nghiên cứu trước để đưa ra nhận định.
Các đóng góp mới của đề tài so với các nghiên cứu trước tại Việt Nam: bài nghiên cứu tìm hiểu sự khác biệt trong mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và lợi nhuận nếu có sự xuất hiện của tiền và vay ngắn hạn, bài nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ phi tuyến giữa quản trị vốn lưu động và lợi nhuận. Sau khi đã xác định các vấn đề cơ bản của luận văn này, chương 2 sẽ đi sâu vào tìm hiểu các cơ sở lí thuyết nền tảng và các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về vấn đề nghiên cứu. Chương 2 sẽ là cơ sở học thuật quan trọng cho việc nghiên cứu. 9 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Chương 2 trình bày cơ sở học thuật nền tảng của đề tài nghiên cứu.
Chương 2 có hai khoản mục. Mục thứ nhất sẽ diễn giải khái niệm các biến được sử dụng trong bài nghiên cứu và lí do tại sao các biến số này được chọn làm đại diện đo lường cho hiệu quả của quản trị vốn lưu động và lợi nhuận. Mục thứ hai là tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây trên thế giới và tại Việt Nam. Các nghiên cứu trước đây là cơ sở tham khảo và so sánh cho bài nghiên cứu này.
Các nghiên cứu trước đây sẽ được sắp xếp theo thứ tự thời gian. Cơ sở lí luận Vốn lưu động được định nghĩa là sự chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn và thường được sử dụng như là phương pháp đo lường mức độ thanh khoản của doanh nghiệp (Mun và Jang 2015). Tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn được gọi chung là vốn lưu động. Tài sản ngắn hạn được gọi là tổng số vốn lưu động.
Nợ ngắn hạn thường bao gồm các khoản chính là nợ phải trả người bán và vay ngắn hạn. Tài sản ngắn hạn sẽ hiện diện dưới các dạng: tiền và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, khoản phải thu khách hàng. Trong quá trình kinh doanh thường xuyên của công ty, tài sản ngắn hạn sẽ chuyển hóa qua các dạng nói trên. Trước hết công ty mua chịu hàng hóa hoặc mua chịu nguyên vật liệu (mua hàng tồn kho) để sản xuất sản phẩm – hình thành nên khoản phải trả người bán.
Sau một thời gian công ty phải chi tiền để trả cho người bán. Sau thời gian sản xuất, doanh nghiệp bán chịu sản phẩm (bán hàng tồn kho), hình thành nên khoản phải thu khách hàng. Một thời gian sau khách hàng sẽ thanh toán và doanh nghiệp thu tiền về. Như vậy tiền ban đầu sẽ chuyển sang hàng tồn kho, từ hàng tồn kho sang khoản phải thu và sau cùng quay trở về tiền.
Thời gian từ lúc bắt đầu mua chịu hàng hóa đến lúc thu tiền về là một chu kì kinh doanh của doanh nghiệp. Chu kì kinh doanh được mô phỏng trong hình 2.1: Chu kì kinh doanh và chu kì chuyển đổi tiền (Nguồn: Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên 2014) Chu kì kinh doanh của doanh nghiệp gồm hai giai đoạn: Giai đoạn 1: từ lúc mua chịu hàng hóa, nguyên vật liệu (mua hàng tồn kho) đến lúc bán hàng hóa thành phẩm (bán hàng tồn kho) được gọi là số ngày tồn kho hay là kì lưu hàng tồn kho (the number of days of inventory – kí hiệu là INV). Giai đoạn 2: từ lúc bán hàng tồn kho đến lúc thu tiền khách hàng về được gọi là số ngày thu tiền hay là kì thu tiền khoản phải thu (the number of days accounts receivable – kí hiệu là AR). Khoản thời gian từ lúc chi tiền đến lúc công ty thu tiền về gọi là chu kì vốn lưu động hay là chu kì chuyển đổi tiền (cash conversion cycle – kí hiệu CCC).
Và khoản thời gian từ lúc mua hàng tồn kho đến lúc chi tiền trả người bán được gọi là số ngày trả tiền mua hàng hay là kì thanh toán khoản phải trả (the number of days accounts payable – kí hiệu AP).1 ta có công thức: CCC = AR + INV – AP (2.1) Quản trị vốn lưu động hiệu quả nghĩa là phải làm sao lên kế hoạch tài trợ, sử dụng vốn lưu động một cách hợp lí để gia tăng lợi nhuận và hạn chế rủi ro của công ty. Chu kì chuyển đổi tiền (CCC) được chọn làm chỉ tiêu đo lường hiệu quả của việc 11 quản trị vốn lưu động vì các doanh nghiệp có chu kì chuyển đổi tiền ngắn hơn sẽ ít phải đầu tư vào vốn lưu động hơn và vì vậy chi phí tài trợ của những doanh nghiệp này thường thấp hơn (Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên 2014). Bởi lẽ rằng, khi rút ngắn chu kì chuyển đổi tiền, doanh nghiệp sẽ tiết kiệm đáng kể thời gian và chi phí bỏ ra cho vốn lưu động, giúp doanh nghiệp xoay vòng vốn nhanh để tăng lợi nhuận, hoặc kiếm lợi nhuận khi sử dụng tiền đầu tư ngắn hạn. Hơn nữa rút ngắn chu kì chuyển đổi tiền giúp nguồn tiền của doanh nghiệp ít bị đưa vào kinh doanh, giảm bớt rủi ro thanh khoản cho doanh nghiệp.
Nhìn chung, các công ty có chu kì chuyển đổi tiền ngắn hơn sẽ có lợi hơn và tạo ra nhiều giá trị hơn trong thời gian dài (Mansoori và Muhammad 2012). Lợi nhuận của doanh nghiệp có thể được diễn đạt qua nhiều chỉ số khác nhau: lợi nhuận trước thuế, lãi ròng, lợi nhuận trên tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, tỉ lệ lợi nhuận hoạt động gộp1. Bài nghiên cứu phân tích hiệu quả quản trị vốn lưu động xét trên đầu tư và sử dụng tài sản ngắn hạn một cách hợp lí. Do đó bài nghiên cứu sẽ chọn lợi nhuận trên tài sản (ROA) là thước đo đại diện cho lợi nhuận của doanh nghiệp.
Vì tài sản ngắn hạn là một phần trong tổng tài sản, lợi nhuận được tạo ra là nhờ việc quản trị và sử dụng tài sản một cách hợp lí. Mối quan hệ mà bài nghiên cứu hướng đến là mối quan hệ giữa CCC và ROA, trong đó CCC là biến độc lập và giải thích cho biến ROA. Theo công thức (2.1), khi rút ngắn chu kì chuyển đổi tiền CCC, nghĩa là doanh nghiệp có thể chiếm dụng vốn của nhà cung cấp lâu hơn (AP tăng), hoặc sản xuất sản phẩm nhanh hơn (INV giảm), hoặc thời gian thu tiền khách hàng ngắn hơn (AR giảm). Theo đó các thông số kì thu tiền khoản phải thu (AR), kì lưu hàng tồn kho (INV) và kì thanh toán khoản phải trả người bán (AP), cũng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận.
Do vậy tác giả cũng xem xét mối quan hệ giữa AR và ROA, INV và ROA, AP và ROA. Trong đó các biến AR, INV, AP lần lượt là biến độc lập và giải thích cho biến ROA. 𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛−𝐺𝑖á 𝑣ố𝑛 ℎà𝑛𝑔 𝑏á𝑛 1 Tỉ lệ lợi nhuận hoạt động gộp = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛−𝑇à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑡à𝑖 𝑐ℎí𝑛ℎ 12 Các biến CCC, AR, INV, AP đều là biến đại diện cho quản trị vốn lưu động và được xem xét sự ảnh hưởng đến ROA. Tuy nhiên trong thành phần vốn lưu động còn có tiền và vay ngắn hạn.
Bài nghiên cứu muốn xem xét rằng, nếu có sự xuất hiện của tiền và vay ngắn hạn thì liệu ảnh hưởng của quản trị vốn lưu động lên lợi nhuận có khác biệt không. Do đó bài nghiên cứu chọn thêm biến hệ số đảm nhiệm vốn lưu động (WCR) như là thước đo cho hiệu quả của quản trị vốn lưu động và xem xét sự ảnh hưởng của WCR lên ROA. Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động (WCR) sẽ chứa đựng các thành phần: tiền, khoản phải thu, hàng tồn kho, khoản phải trả, vay ngắn hạn. Tổng quan các nghiên cứu trước đây Có nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy tồn tại mối quan hệ nghịch biến giữa quản trị vốn lưu động và lợi nhuận nhưng một vài nghiên cứu khác lại tìm thấy mối quan hệ đồng biến giữa quản trị vốn lưu động và lợi nhuận.
Các nghiên cứu được khảo lược và sắp xếp theo thứ tự thời gian. Soenen (1993) sử dụng mẫu gồm khoảng 2.000 công ty từ 20 ngành khác nhau trong giai đoạn 1970 – 1989. Ông tìm thấy có mối quan hệ nghịch biến giữa chu kỳ thương mại thuần (net trade cycle – NTC2) và lợi nhuận, với lợi nhuận được tính bằng tổng thu nhập trên tổng tài sản. Kết quả cho thấy chu kỳ thương mại thuần càng ngắn thì lợi nhuận sẽ càng cao.
Soenen giải thích rằng các nhà quản trị có thể tạo ra tiền cho mục đích đầu tư bằng cách theo dõi thời điểm và mức độ lưu chuyển tiền. Chu kỳ thương mại thuần phản ánh khoảng thời gian từ lúc sử dụng tiền để mua nguyên vật liệu đến lúc thu lại tiền từ việc bán sản phẩm. Ngoài ra, bài nghiên cứu cũng đề cập rằng độ dài của chu kỳ thương mại thuần là công cụ để xác định mức độ công ty phụ thuộc vào nguồn tài chính bên ngoài. Shin và Soenen (1998) sử dụng chu kỳ thương mại thuần như là một thước đo của hiệu quả quản trị vốn lưu động để nghiên cứu mối quan hệ giữa việc quản trị vốn lưu động và lợi nhuận của công ty.
NTC tương đương với CCC với sự xuất 𝐻à𝑛𝑔 𝑡ồ𝑛 𝑘ℎ𝑜+𝑘ℎ𝑜ả𝑛 𝑝ℎả𝑖 𝑡ℎ𝑢 𝑘ℎá𝑐ℎ ℎà𝑛𝑔−𝑘ℎ𝑜ả𝑛 𝑝ℎả𝑖 𝑡𝑟ả 𝑛𝑔ườ𝑖 𝑏á𝑛 2 𝑁𝑇𝐶 = 365 × 𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛 13 hiện của ba thành phần chủ yếu của vốn lưu động. Ngoài ra NTC còn có thể cung cấp một ước tính dễ dàng cho các nhu cầu tài chính bổ sung liên quan đến vốn lưu động như là một chức năng của sự tăng trưởng doanh số bán hàng. Bài nghiên cứu sử dụng mẫu gồm 58.985 công ty trong giai đoạn 1975 – 1994, kết quả cho thấy có một mối quan hệ nghịch biến giữa độ dài của NTC và lợi nhuận. Kết quả này giúp đưa ra một cách để gia tăng giá trị cổ đông là giảm độ dài NTC của công ty.