chương 1 Trong chương đầu tiên, tác giả đã giới thiệu tổng quan về đề tài luận án. Trên cơ sở các vấn đề phát sinh trong thực tiễn, kết hợp với cơ sở lý luận để làm rõ lĩnh vực mà đề tài luận án nghiên cứu. Tác giả đã xác định được mục tiêu tổng quát là nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển tài chính và TTBĐS Việt Nam. Trên cơ sở này, tác giả đã xác định được các mục tiêu cụ thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp mới của đề tài luận án và bố cục của đề tài luận án.
Đây là cơ sở để tác giả triển khai nội dung chi tiết ở các chương tiếp theo. 10 Mối quan hệ giữa phát triển tài chính và thị trường bất động sản Việt Nam CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Chương 2 trình bày tổng quan lý thuyết, các nghiên cứu trước về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và TTBĐS. Các nội dung chủ yếu của chương 2 gồm: (1) Tổng quan lý thuyết về phát triển tài chính; (2) Tổng quan lý thuyết về TTBĐS; (3) Lý thuyết giải thích mối quan hệ giữa phát triển tài chính và TTBĐS; (4) Các nghiên cứu trước về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và TTBĐS.
Tổng quan lý thuyết về phát triển tài chính 2. Khái niệm tài chính Tài chính là sự vận động của các nguồn lực tài chính, sự vận động của vốn tiền tệ và là quỹ tiền tệ của những chủ thể trong xã hội (Gitman, 1997). Qua đó, có thể hiểu tài chính là hệ thống các quan hệ kinh tế trong phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị giữa các chủ thể kinh tế thông qua việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ. Tài chính thường được biểu hiện liên quan tới ba khu vực cơ bản là nhà nước, doanh nghiệp và hộ gia đình.
Các nguồn lực tài chính biểu hiện dưới dạng tiền tệ trong nền kinh tế, được hình thành và vận động trên thị trường tài chính. Với một quan điểm khác, Fabozzi và Drake (2009) cho rằng tài chính là việc áp dụng các nguyên tắc kinh tế cho việc ra quyết định liên quan đến phân bổ các nguồn lực tài chính trong điều kiện không chắc chắn. Vậy, tài chính có thể được hiểu là sự vận động của vốn tiền tệ. Tài chính phản ánh đa dạng các mối quan hệ trong nền kinh tế nảy sinh trong quá trình phân phối các nguồn lực tài chính thông qua việc tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ với mục đích đáp ứng nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội.
Tập hợp các mối quan hệ cung cầu về vốn, nhằm dịch chuyển vốn từ nơi cung cấp vốn đến nơi có nhu cầu về vốn được thể hiện thông qua hệ thống tài chính (Mankiw, 2011). Vốn có thể được chuyển trực tiếp bằng việc sử dụng các công cụ tài chính và thông qua thị trường tài chính, hoặc gián tiếp thông qua các tổ chức tài chính. Do đó, hệ thống tài chính bao gồm hai bộ phận quan trọng là tổ chức tài chính và thị trường tài 11 Mối quan hệ giữa phát triển tài chính và thị trường bất động sản Việt Nam chính. Ngoài ra, hệ thống tài chính còn bao gồm cơ sở hạ tầng tài chính (financial infrastructure) (Khanna & các cộng sự, 1992).
- Tổ chức tài chính là tổ chức có chức năng cung cấp các dịch vụ tài chính. Qua đó, tổ chức tài chính đóng vai trò trung gian giữa bên cung cấp vốn và bên có nhu cầu về vốn. Các tổ chức tài chính quan trọng trong hệ thống tài chính có thể kể đến là ngân hàng, công ty tài chính, công ty bảo hiểm. - Thị trường tài chính là thị trường mà ở đó diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán các công cụ tài chính.
Qua đó, bên cung cấp vốn có thể cung cấp vốn trực tiếp cho bên có nhu cầu về vốn. Công cụ tài chính được mua bán, trao đổi trên thị trường tài chính với nhiều loại và hình thức đa dạng, bao gồm các loại cơ bản như chứng khoán vốn, chứng khoán nợ, chứng khoán phái sinh. Xét theo kỳ hạn, thị trường tài chính có thể được chia thành thị trường tiền tệ (ngắn hạn) và thị trường vốn (trung và dài hạn). Các thị trường tài chính quan trọng trong hệ thống tài chính có thể kể đến là thị trường cổ phiếu và thị trường trái phiếu.
- Đối với cơ sở hạ tầng tài chính, đây là yếu tố bổ trợ giúp cho quá trình vận hành của tổ chức tài chính và thị trường tài chính hiệu quả hơn. Các thành phần quan trọng của cơ sở hạ tầng tài chính có thể kể đến là các quy định, hệ thống pháp luật, hệ thống thanh toán. Hiện nay, hệ thống tài chính không phân biệt ranh giới địa lý hay chính trị, mà được toàn cầu hoá trong việc luân chuyển nguồn vốn. Do đó, sự phát triển của hệ thống tài chính đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế.
Khái niệm phát triển tài chính Hiện tại, trên thế giới đang tồn tại nhiều khái niệm và cách hiểu khác nhau về phát triển tài chính (financial development). Dưới đây là các khái niệm về phát triển tài chính thường được sử dụng: - Thứ nhất, một trong những nền tảng của khái niệm phát triển tài chính là khái niệm áp chế tài chính (financial repression), khái niệm này được đưa ra lần đầu bởi Shaw (1973) và McKinnon (1973). Áp chế tài chính cho rằng chính phủ sẽ sử dụng các chính sách đối với hệ thống tài chính (thông qua lãi suất, dự trữ bắt buộc, kiểm soát tín dụng,…) nhằm tác động đến nền kinh tế, tuy nhiên điều này có thể sẽ làm chậm phát 12 Mối quan hệ giữa phát triển tài chính và thị trường bất động sản Việt Nam triển tài chính, áp chế tài chính thường được thể hiện rõ ở các quốc gia đang phát triển. Áp chế tài chính có thể dẫn đến hệ quả là hệ thống tài chính không thể phát triển theo chiều sâu, đầu tư trong nền kinh tế sẽ tập trung vào một số dạng tài sản như vàng và bất động sản.
Ngược lại, phát triển tài chính (giảm bớt sự can thiệp của chính phủ) có thể kích thích đầu tư và thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng. - Thứ hai, phát triển tài chính thể hiện sự cải thiện về chất lượng đối với năm chức năng của hệ thống tài chính, bao gồm: (i) Tạo ra, xử lý thông tin về các cơ hội đầu tư tiềm năng và phân bổ vốn dựa trên các đánh giá; (ii) Giám sát các khoản đầu tư và thực hiện quản trị doanh nghiệp sau khi cung cấp tài chính; (iii) Tạo thuận lợi cho việc mua bán, đa dạng hóa và quản lý rủi ro; (iv) Huy động vốn và tiết kiệm; (v) Tạo thuận lợi cho quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ. Khái niệm này được đưa ra trong nghiên cứu của Levine (2005). Theo đó, sự cải thiện về chất lượng đối với các chức năng của hệ thống tài chính có thể đại diện cho phát triển tài chính.
- Thứ ba, phát triển tài chính hàm ý sự cải thiện về quy mô, hiệu quả của các tổ chức tài chính (ngân hàng, công ty tài chính, công ty bảo hiểm,…) và thị trường tài chính (Zaman & các cộng sự, 2012). - Thứ tư, phát triển tài chính có thể hiểu là một phần của phát triển khu vực tư nhân nhằm kích thích nền kinh tế tăng trưởng và giảm nghèo. Phát triển tài chính bao gồm sự phát triển các tổ chức tài chính và thị trường tài chính nhằm làm giảm bớt các chi phí giao dịch. Do đó, phát triển tài chính là sự kết hợp về phát triển theo độ sâu, khả năng tiếp cận, hiệu quả của các tổ chức tài chính và thị trường tài chính (Svirydzenka, 2016).
- Thứ năm, phát triển tài chính thể hiện sự cải thiện về độ sâu, hiệu quả, khả năng tiếp cận, gia tăng sự ổn định của các tổ chức tài chính và thị trường tài chính. Khái niệm này được đưa ra trong nghiên cứu của Olgu và các cộng sự (2014), đồng thời cũng phù hợp với quan điểm của World Bank. Theo đó, ngoài việc đề cập đến độ sâu, hiệu quả và khả năng tiếp cận, phát triển tài chính còn được thể hiện thông qua sự ổn định của các tổ chức tài chính và thị trường tài chính. Như vậy, từ những khái niệm ở trên, chúng ta có thể hiểu phát triển tài chính là sự cải thiện về độ sâu, hiệu quả, khả năng tiếp cận, ổn định của các tổ chức tài chính và thị trường tài chính.
13 Mối quan hệ giữa phát triển tài chính và thị trường bất động sản Việt Nam 2. Đo lường phát triển tài chính Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm thường đo lường phát triển tài chính thông qua chỉ số tín dụng nội địa cho khu vực tư nhân (tín dụng nội địa cho khu vực tư nhân / GDP) và giá trị vốn hóa TTCK (giá trị vốn hóa TTCK / GDP), đây là hai chỉ số phản ánh về độ sâu tài chính. Có thể nói rằng, các chỉ số này chưa tính đến bản chất đa chiều phức tạp của phát triển tài chính (Svirydzenka, 2016). Bởi vì, ngoài độ sâu tài chính, phát triển tài chính còn được thể hiện thông qua khả năng tiếp cận tài chính, hiệu quả tài chính và ổn định tài chính.
Nhìn chung, xét một cách tổng quát, phát triển tài chính được đo lường thông qua độ sâu tài chính, hiệu quả tài chính, khả năng tiếp cận tài chính, ổn định tài chính của các tổ chức tài chính và thị trường tài chính (Hình 2. Cách đo lường này cũng được IMF và World Bank sử dụng để xác định bộ chỉ số phát triển tài chính. Trong đó, IMF đo lường phát triển tài chính thông qua độ sâu tài chính, hiệu quả tài chính, khả năng tiếp cận tài chính của các tổ chức tài chính và thị trường tài chính. Ngoài ra, World Bank đã công bố dữ liệu về phát triển tài chính của 214 nền kinh tế trên thế giới trong giai đoạn 1960-2017 với 109 chỉ số.
Với bộ chỉ số này, World Bank nhấn mạnh vai trò của ổn định tài chính khi đo lường phát triển tài chính. Theo đó, sự bất ổn của hệ thống tài chính có thể tác động đến các thị trường khác và thậm chí là các quốc gia khác. Phát triển tài chính Tổ chức tài chính Thị trường tài chính Khả Khả Độ Hiệu năng Ổn Độ Hiệu năng Ổn sâu quả tiếp định sâu quả tiếp định cận cận Nguồn: Svirydzenka (2016).